Khi còn nhỏ, ai cũng đã từng thắc mắc với hàng ngàn câu hỏi như: Vì sao ban ngày trời sáng, ban đêm lại tối? Ai sinh ra bố mẹ, ông bà?… Lớn lên, con người vẫn hoài nghi và đi tìm câu trả lời cho những vấn đề thực tế, gần gũi hơn. Sao mùa màng năm nay thất thu? Làm gì để có đời sống gia đình ổn định và hạnh phúc?… Những câu hỏi đó không hề vô nghĩa, mà mang giá trị nhận thức sâu sắc về việc con người luôn khao khát tìm hiểu chân lý và hướng đến đời sống tốt đẹp hơn.

Đi tìm câu trả lời cho sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng, đạo Phật đã đề cập đến triết lý nhân quả như là tất yếu khách quan của đời sống. Chúng ta vẫn thường nghe “nhân nào quả nấy”, “ở hiền gặp lành” hay “ác giả ác báo”… đó đều là những đúc kết lý giải cho quy luật nhân quả vận hành vạn vật. Phật giáo khi được nhìn nhận ở góc độ triết học, liên quan đến phạm trù nhân quả đã cho thấy sức ảnh hưởng của mình, không chỉ dừng lại ở việc đề cập các lý luận khoa học, thỏa mãn óc tìm tòi khám phá của con người mà còn có giá trị thực tiễn, ứng dụng và cải tạo đời sống, như lời của nhà bác học A. Einstein nhận định: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo”.
Lý nhân quả đã được khái quát thành một bài kệ như sau:
“Dục tri tiền thế nhân
Kim sinh thọ giả thị
Dục tri lai thế giả
Kim sanh tác giả thị.”
Nghĩa là:
Muốn biết đời trước đã tạo nhân gì
Hãy xem đời nay chịu quả thế nào.
Muốn biết đời sau sẽ chịu quả gì
Hãy xem đời nay tạo những nhân gì.
Con người tác động vào thế giới quanh mình bằng yếu tố vật chất và tinh thần, tạo nên kết quả là sự biến đổi cả vật chất và tinh thần của con người cũng như thế giới, như trồng nhiều cây thì được khu rừng xanh mát; chăm chỉ học tập, tu dưỡng đạo đức thì trở thành người trí thức, thiện lương. Nguyên nhân lành thì kết quả tốt, nguyên nhân dữ thì kết quả xấu. Tín đồ đến với đạo Phật phải tin và hiểu rằng: Đức Phật không phải là một vị thần linh có nhiệm vụ “cầm cân nảy mực” cho những tội phước ở đời mà “theo thuyết nhân quả thì không có người thưởng phạt, trong mỗi nguyên nhân đã ngầm chứa một mầm thưởng phạt.” Người trồng cam thì được cam, trồng ổi thì được ổi, không thể gieo hạt cây cam mà lớn thành cây ổi, không thể đúc trong khuôn tròn mà ra hình dáng vuông bao giờ. Cũng vậy, trong cuộc sống, nếu gieo nhân ác, làm những việc bất thiện thì đưa đến quả báo ác xấu, khổ đau là điều không tránh khỏi và ngược lại. Cổ nhân nói:
“Thiện ác đáo đầu chung hữu báo,
Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì.”
Nghĩa là việc lành hay việc dữ đều có quả báo, chỉ khác nhau đến sớm hay muộn mà thôi. Đây là để nói lý do vì sao nhiều người đời này ăn ở hiền lành, thiện lương nhưng vẫn gặp những chuyện đau khổ, bế tắc. Theo quan niệm nhân quả ba đời của đạo Phật, ác nghiệp trong đời quá khứ họ đã gieo, chuyển tiếp hiện hành trong đời hiện tại. Nhưng nếu hiện tại có tu tập, dứt trừ nhân ác xấu từ suy nghĩ đến lời nói, hành động thì tương lai của đời này và đời sau sẽ được chuyển hóa tốt đẹp hơn. Bởi vậy, sống mà không lo nhân quả, buông thả, phóng túng thì họa đến gần. Con đê ngàn dặm bị hủy có khi cũng chỉ bởi tổ kiến. Chúng ta không được coi thường những nguyên nhân nhỏ, vì khi hội đủ điều kiện có thể dẫn đến hậu quả khôn lường. Bên cạnh đó, nhân quả theo Phật giáo không chỉ hạn chế trong việc “nhân nào quả nấy” mà còn có yếu tố quan trọng là biệt nghiệp và cọng nghiệp, vận hành theo luật nhân quả. Biệt nghiệp là nghiệp báo riêng của mỗi người, như ai ăn người ấy no, ai phạm tội thì người đó chịu sự trừng phạt của pháp luật… Cọng nghiệp là nghiệp chung cho nhiều người, như cùng làm việc trong một công ty, nếu công ty làm ăn thua lỗ, phá sản thì dù là giám đốc hay nhân viên đều chịu ảnh hưởng. Hay cùng sống trong gia đình có người tù tội (nhân), dù bản thân không làm ác nhưng vì cọng nghiệp nên vẫn mang tiếng xấu (quả). Bởi thế, một người làm việc tốt, ngàn người được ảnh hưởng tích cực, một cây trổ hoa thì muôn cây xung quanh được thơm lây.

Nhân chắc chắn tạo ra quả, nhưng quả như thế nào thì không cố định một chiều, mà chuyển biến linh động, phụ thuộc vào nhân và các điều kiện khác mà Phật giáo gọi là duyên. Cũng như khi nói về hạnh phúc là một tổng thể của nhiều yếu tố bao gồm sức khỏe tốt, điều kiện kinh tế ổn, gia đình êm ấm… Nếu chỉ bảo cố gắng kiếm thật nhiều tiền để có hạnh phúc thì điều đó không thể xảy ra, tuy rằng yếu tố vật chất có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống tinh thần. Kiếm nhiều tiền, cái mà con người có chắc chắn là tiền, nhưng hạnh phúc thì chưa, vì con người cần phải dành một phần nỗ lực của mình đầu tư cho sức khỏe, gia đình và các mối quan hệ… Các điều kiện thuận lợi, thúc đẩy hình thành kết quả tốt đẹp gọi là thuận duyên. Các điều kiện bất lợi, cản trở kết quả hay đưa đến quả theo hướng tiêu cực gọi là nghịch duyên. Ví dụ giống lúa tốt là nhân nhưng gặp nghịch duyên như sâu bệnh, thời tiết khắc nghiệt… dẫn đến kết quả hạt lép, mất mùa. Ngược lại, cũng giống tốt đó nhưng gặp thuận duyên như thời tiết khí hậu hài hòa, thuận lợi, người nông dân chăm sóc kĩ lưỡng, sớm phát hiện và diệt trừ sâu bệnh cho cây… dẫn đến kết quả năng suất cao, mùa màng bội thu. Cũng cần lưu ý, ở mỗi hoàn cảnh khác nhau, điều kiện này có thể là thuận duyên với nhân này nhưng sẽ là nghịch duyên với nhân khác. Mưa xuân tầm tã là thuận duyên cho ruộng đất được thấm nhuần, mùa màng được tươi tốt nhưng lại là nghịch duyên cho kẻ bộ hành khi đường sá bùn lầy trơn trượt. Do đó, khi muốn đạt được một mục tiêu, con người cần xác định nguyên nhân cơ bản và tập trung phát huy, thúc đẩy các điều kiện tích cực (thuận duyên) để hình thành kết quả tốt, hạn chế các điều kiện tiêu cực (nghịch duyên) đưa đến kết quả không mong muốn. Kinh Pháp cú số 127 viết:
“Không trên trời dưới biển
Không lánh vào động núi
Không chỗ nào trên đời
Trốn được quả ác nghiệp.”
Bài kệ đã khẳng định lý nhân quả là tất yếu khách quan, gieo nhân xấu thì dù “lên trời xuống biển” cũng không tránh được quả ác và ngược lại. Con người thường sống với nhân quả, dùng tấm gương nhân quả để soi chiếu tội phước ở đời. Như “bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất”, ăn đồ không tốt thì cái nạn bệnh tật sẽ đến, nói năng không hay thì gặp họa hại mình, hại người là không thể tránh. Nhân quả nghiêm chỉnh đặt ra vấn đề trách nhiệm cá nhân của con người đối với tự thân và xã hội khi ngay bây giờ, mỗi cá nhân nỗ lực tự hoàn thiện mình để kiến tạo một tương lai tốt đẹp hơn. “Phàm làm việc gì phải nghĩ đến hậu quả của nó” hay “Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả” là lời dạy thiết thực của đạo Phật thức tỉnh con người coi trọng nguyên lý nhân quả trong cuộc sống để điều chỉnh nhận thức, hành vi của mình sao cho phù hợp.
Hướng đến mùa Phật Đản PL. 2567 – DL. 2023, kỷ niệm ngày thị hiện của đấng Từ phụ Thích Ca Mâu Ni, không có đóa hoa nào đẹp bằng đóa hoa Tâm dâng lên cúng dường Thế Tôn, không có hành động tri ân nào ý nghĩa bằng việc tin và thực hành lý nhân quả để hướng đến đời sống tốt đẹp, lợi ích cho bản thân và tha nhân.
Lương Uyên















