Đạo hiếu là đạo lý căn bản trong cuộc đời mỗi người. Từ truyền thống dân tộc, đạo hiếu được coi trọng, là một chuẩn mực đạo đức trong giáo dục con người. Phật giáo xác quyết, vun đắp cho con người thấu rõ những giá trị của đạo hiếu. Thực hành đạo hiếu là một tất yếu vô cùng quan trọng trong việc tu dưỡng đạo đức của Phật tử.

ĐẠO HIẾU TRONG VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT
Đạo hiếu đối với người Việt Nam vừa là một chuẩn mực đạo đức đồng thời cũng là nguyên tắc để điều chỉnh hành vi, ứng xử của con người trong các mối quan hệ gia đình. Người Việt Nam lấy hiếu làm tiêu chuẩn và thước đo nhân cách con người, mở rộng nó thành chuẩn mực về nhân cách trong các quan hệ với làng xã và quốc gia dân tộc. Hiếu không chỉ là sự biết ơn, quan tâm, chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ mà còn là sự biết ơn, trả ơn đối với tất cả những người có công lao với mình, với quê hương, đất nước. Vì vậy, đạo hiếu đã trở thành một hệ thống quy chuẩn văn hóa truyền thống của người Việt. Đạo hiếu của người Việt được nhận diện thông qua một số biểu hiện cụ thể như sau:
Người có hiếu là người có lòng biết ơn, luôn nhớ về cội nguồn
Ơn đầu tiên, trực tiếp và rất lớn đối với con người đó là ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ. Cha mẹ không chỉ có công sinh thành, nuôi dưỡng mà tình thương của cha mẹ dành cho con cái vô cùng to lớn. Người Việt đã dùng những hình ảnh vĩ đại nhất để ca ngợi công lao và tình yêu thương của cha mẹ như trời, biển, núi Thái Sơn. Câu chuyện về Chử Đồng Tử liệm khố theo cha, còn mình thì chịu mình trần khổ sở kiếm sống, ca ngợi về lòng hiếu thảo của người con với cha. Khi vua Hùng tưởng vợ chồng Chử Đồng Tử tạo phản, bèn đưa quân đến đánh. Hai vợ chồng Chử Đồng Tử không chống lại lệnh vua cha, họ dùng phép bay về trời.
Ngoài cha mẹ, những người thân trong gia đình, họ hàng, làng xóm, rộng ra là những người trên khắp quê hương, đất nước đều có mối liên hệ với mỗi người, giúp cho chúng ta sinh sống, học tập, làm việc… Đối với người Việt Nam, mối quan hệ giữa nhà – làng – nước là mối quan hệ hết sức bền chặt, trong đó, gia đình luôn là nền tảng của tất cả những mối quan hệ trên. Người Việt thường dạy con cháu câu chuyện về Lạc Long Quân và Âu Cơ, nhắc cho con cháu biết ơn cội nguồn của mình và biết yêu thương nhau như một gia đình. Dù trên rừng hay dưới biển, dù thành thị hay nông thôn, dù giàu hay nghèo, trí thức hay bình dân… tất cả đều là một gia đình. Từ biết ơn người có công với làng xóm dẫn đến biết ơn những người cùng sống trong làng xóm, quê hương với cha mẹ, dòng họ và tổ tiên của mình. Tục thờ thành hoàng làng của người Việt cũng là thể hiện lòng biết ơn đối với người có công với quê hương của mình. Ở cấp độ quốc gia, dân tộc, người dân luôn nhớ đến ngày quốc giỗ, tạo nên sự gắn kết bền chặt trong cộng đồng.
Hiếu thể hiện ở việc báo ơn đối với cha mẹ mình; là sự đền đáp công lao những người có ân nghĩa với mình và có công với quê hương, đất nước
Lòng biết ơn là dấu hiệu của con người có những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, là động lực cho những hành động cao đẹp để báo ơn. Ngay từ khi còn nhỏ, cha mẹ Việt thường dạy con biết vâng lời, lễ phép, biết quan tâm, chăm lo đến mọi người, biết cảm ơn và đáp lại tình cảm đó đối với người có ơn với mình, gia đình mình. Vì vậy, chữ hiếu đã được người Việt thực hành từ nhỏ, nên người Việt có tính nhu thuận, sớm biết quan tâm đến người khác, có trách nhiệm đối với những người thân, người xung quanh mình. Người con có hiếu thường báo ơn cha mẹ bằng việc quan tâm, chăm sóc, cấp dưỡng, phụng dưỡng cho cha mẹ, ông bà. Khi cha mẹ, ông bà đã mất, thì sự quan tâm, chăm sóc phải thể hiện ở việc lo tang lễ, cúng giỗ. Sự cúng giỗ, thờ phụng cha mẹ đã mất như khi đang còn sống (tế như tại). Báo ơn của người con có hiếu còn thể hiện sự quan tâm, trung thành, trách nhiệm với gia đình, dòng họ, quê hương và với quốc gia, dân tộc. Khi nước ta bị giặc Nguyên xâm lược, tướng quân Trần Quốc Tuấn viết: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa.” (Hịch Tướng sĩ). Sự trăn trở, lo lắng cho đất nước là hiếu. Nguyễn Phi Khanh đã khuyên con là Nguyễn Trãi, không nên theo cha hầu hạ mà cần tìm cách trốn thoát khỏi quân giặc, chờ ngày phục thù cho đất nước: “Con ơi! Hai chữ nước nhà”. Nguyễn Tất Thành cũng được cụ Nguyễn Sinh Sắc khuyên: “Giờ này con không đi tìm đường cứu nước, đến đây để gặp cha làm gì”. Đó là sự trao truyền trách nhiệm với đất nước của thế hệ trước cho thế hệ sau. Vì trách nhiệm với quê hương, đất nước, vì thương yêu những người trên quê hương mình nên có rất nhiều người không tiếc máu xương, không sợ chết, không sợ khổ, đã anh dũng, gan dạ, kiên cường, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ quê hương, đất nước khi đất nước lâm nguy.

TRIẾT LÝ CỦA PHẬT GIÁO LÀ TRÍ TUỆ SOI SÁNG CHO CON NGƯỜI HIỂU BIẾT VÀ THỰC HÀNH ĐẠO HIẾU SÂU SẮC, ĐÚNG ĐẮN VÀ THIẾT THỰC.
Đạo Phật là đạo hướng con người đến giải thoát khỏi lục đạo luân hồi. Bên cạnh đó, đạo Phật còn hướng con người sống tốt trong cuộc đời. Vì vậy, đạo Phật vừa mang tính xuất thế, vừa mang tính nhập thế. Đạo hiếu là đạo đức căn bản và cao đẹp của con người. Bởi đạo hiếu nói đến mối quan hệ giữa con cái với cha mẹ, ông bà, là mối quan hệ máu mủ nên rất gần gũi, thân thiết. Nếu con người không biết ơn với cha mẹ, ông bà thì những đạo lý khác không thể có. Bởi vậy, trong Phật Pháp có “tứ trọng ân”: ơn cha mẹ, ơn thầy tổ, ơn Tổ quốc, ơn Tam Bảo và vạn loài chúng sinh.
Mục đích sống và tu hành của Phật tử là tu dưỡng đạo đức, trong đó đạo hiếu là một trong những đạo lý quan trọng, trực tiếp nhất. Khi hiểu nhân quả tội phước thì người Phật tử phải giữ 5 giới, không dám làm những điều sai trái nên tránh được tội lỗi, không làm cho cha mẹ phiền lòng. Cùng đó, người Phật tử phải gắng sức để làm thật nhiều công đức lành, mang đến nhiều lợi ích cho chúng sinh, mang đến sự thơm thảo cho cha mẹ để đền đáp công ơn.
Trong Kinh Hiền Ngu viết: “Ta trong nhiều kiếp quá khứ, nhờ từ tâm hiếu thuận, cúng dường cha mẹ, do công đức đó, nên sinh lên các từng trời thì làm Thiên đế, xuống nhân gian thì làm Thánh vương”. “Đức Phật cũng dạy rằng cách đền đáp đúng đắn và ý nghĩa nhất của người con đối với cha mẹ là ngoài việc báo ân cha mẹ, người con phải khuyến hóa cha mẹ làm điều phước thiện, quy y Tam Bảo, thọ trì giới luật, sống theo chánh kiến”. Người Phật tử phải giúp cho cha mẹ biết đến Phật Pháp, thực hành theo Phật Pháp. Đây là điều khác biệt căn bản của người theo đạo Phật so với những người không theo đạo.
Đạo Phật giúp con người hiểu được sự luân hồi, hiểu rằng chết không phải là hết. Vì vậy, sau kiếp này, cha mẹ sẽ đi đâu về đâu, điều đó luôn thường trực trong tâm của người con Phật. Nếu cha mẹ mất rồi thì con cái phải biết sám hối, tụng kinh, làm phước hồi hướng công đức cho cha mẹ. Nhờ sự cầu nguyện của con cái, cha mẹ sẽ được hưởng phước. Đặc biệt, đạo Phật có lễ Vu Lan để người con Phật biết nương nhờ vào Phật Pháp Tăng, cùng tưởng nhớ và báo đáp cha mẹ, ông bà, tổ tiên.
Trong Kinh Phạm võng viết: “Tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta, ta đời đời đều thọ sinh từ họ, cho nên chúng sinh trong sáu đường đều là cha mẹ ta”. Theo lời Phật dạy, đạo hiếu không chỉ nhớ ơn cha mẹ ở kiếp này mà còn phải nhớ đến cha mẹ những kiếp trước, nên đạo hiếu không chỉ nằm trong khuôn khổ gia đình mà phải được thực hành lòng nhớ ơn đối với cộng đồng, xã hội.
Thực tế ngày nay, điều kiện xã hội đã biến đổi rất nhiều so với xã hội Việt Nam truyền thống, nhưng đạo hiếu vẫn được coi là một chuẩn mực về nhân cách của con người. Trước thực trạng đạo đức đang có những biểu hiện suy thoái trong xã hội hiện đại, việc giáo dục đạo hiếu là trọng yếu để con người giữ được đạo lý cao đẹp làm người. Người Phật tử may mắn được học và hành theo giáo lý của Đức Phật truyền dạy. Bởi sự tôn kính Phật, Pháp, Tăng tuyệt đối nên người Phật tử tin tưởng và nương theo lời dạy của Đức Phật để thực hành.
Hội Hoàng Châu










