Logo footer

Ni trưởng Thích Đàm Nhung: Gìn giữ mạng mạch Phật pháp suốt hơn 100 năm lịch sử

IMG
D42AB07E 113C 46DD A284 B44EFE1F585C
Long Khả Nam

Có những người dành cả cuộc đời để đi qua lịch sử, nhưng cũng có những người vừa đi qua lịch sử, vừa âm thầm góp phần làm nên diện mạo của một vùng đất.

Với Phật Giáo Thanh Hoá, Ni trưởng Thích Đàm Nhung là một người như thế.

Gần trọn một thế kỷ gắn bó với cửa thiền, Ni trưởng đã đi qua những năm tháng đất nước chiến tranh, những ngày chùa chiền còn nghèo khó, đời sống Tăng Ni thiếu thốn trăm bề; rồi từ những ngôi chùa đơn sơ, từng bước góp sức gây dựng tổ chức Phật giáo tỉnh nhà.

Điều đáng quý ở một bậc trưởng lão Ni không chỉ nằm ở những trọng trách từng đảm nhiệm, mà còn ở một đời sống tu hành bền bỉ, thanh bần và lòng kính tín sâu sắc đối với kinh điển, giới luật cùng những bài học căn bản mà người đã được trao truyền từ thuở đầu học đạo.

Năm 2021, nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (07/11/1981 – 07/11/2021), những đóng góp ấy tiếp tục được ghi nhận.

IMG

Chiều ngày 11/11/2021, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bà Lê Thị Huyền – Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh Thanh Hóa – đã trao tặng Huân chương Đại đoàn kết Dân tộc cho Ni trưởng Thích Đàm Nhung, nguyên Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nguyên Trưởng Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa, vì những thành tích xuất sắc trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Đằng sau tấm Huân chương là cả một hành trình dài mà mỗi chặng đường đều in dấu sự tận tụy với đạo pháp và quê hương.

Từ Thuở Ấu Thơ Bén Duyên Nơi Cửa Phật

Ni trưởng Thích Đàm Nhung sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống hướng Phật tại vùng Đông Thọ, Thanh Hóa xưa.

Ngay từ những năm tháng đầu đời, hình bóng ngôi chùa đã trở nên thân thuộc. Khi mới lên sáu, lên bảy tuổi, đôi chân nhỏ của Ni trưởng đã thường xuyên tìm đến cảnh chùa. Tiếng chuông, câu kinh, làn khói trầm cứ thế trở thành một phần ký ức không thể tách rời.

Đến năm sáu tuổi, Ni trưởng xin gia đình cho ở hẳn trong chùa để tu học.

Người trực tiếp gieo những hạt giống đầu tiên trên con đường xuất gia của Ni trưởng là cụ Tổ Thích Đàm An. Trong ký ức của người học trò đã trải qua gần một thế kỷ, vị Thầy nghiệp sư ấy không chỉ là người truyền trao giáo pháp mà còn là người dạy từng phép tắc, từng oai nghi và từng cách sống của người tu.

“Cụ dạy tôi những bài Cảnh sách vỡ lòng, uốn nắn oai nghi, phá trừ tâm lý giải đãi, dạy cách niệm Phật, thỉnh chuông…”

IMG

Những điều tưởng như rất nhỏ ấy lại trở thành nền móng nâng đỡ cả cuộc đời tu hành.

Ngày ấy, việc học đạo không có những điều kiện thuận tiện như hôm nay. Người mới xuất gia trước hết phải học thuộc lòng thiền môn luật nghi, rồi mới được học kinh.

Muốn học chữ, học kinh, thầy trò phải đốt từng cây hương sào. Trong thứ ánh sáng yếu ớt, lập lòe nơi đầu cây hương, những người học trò nhỏ căng mắt đọc từng mặt chữ, học thuộc từ bài kệ thỉnh chuông, cúng cháo cho đến các khoa nghi tụng niệm.

Ánh sáng từ một cây hương nhỏ, theo một cách nào đó, đã soi đường cho một đời người.

Tu Học Giữ Những Ngày Cơ Cực

Những năm tháng đầu đời nơi cửa thiền cũng không phải là những ngày tháng chỉ có kinh kệ và tọa thiền.

Trước khi mặt trời lên, Ni trưởng đã phải quảy đôi quang gánh, đi hàng trăm mét ra giếng làng lấy nước về phục vụ sinh hoạt trong chùa. Củi cũng phải tự tay lượm nhặt ngoài vườn, ngoài rừng để nấu cơm, đun nước.

Đất nước trải qua chiến tranh rồi bước vào những năm tháng bao cấp đầy khó khăn. Chùa chiền khi ấy không có điều kiện được Phật tử hộ trì đông đảo như ngày nay. Muốn duy trì đời sống tu học, người xuất gia phải tự lực lao động.

Ban ngày, các Ni phải ra đồng cấy lúa, gặt hái, cắt rạ. Sau một ngày lao tác nặng nhọc, tối đến mới tranh thủ thắp hương, tọa thiền, học kinh.

Tinh thần ấy được gói ghém trong lời Tổ dạy:

“Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực.”

IMG

Lao động không tách khỏi tu hành. Chính trong những ngày thiếu thốn ấy, Ni trưởng học được cách tìm sự an lạc không phải từ hoàn cảnh thuận lợi, mà từ chính nội tâm và sự tinh tấn của mình.

Nhìn lại cuộc đời, điều Ni trưởng nhớ nhất lại không phải những gian khổ đã trải qua, mà là những lời dạy giản dị của vị Thầy năm xưa.

Những bài học vỡ lòng ấy theo người suốt cả cuộc đời.

Bóng Áo Nâu Giữa Khói Lửa Hàm Rồng

Chiến tranh đã để lại những dấu ấn không thể phai mờ trong ký ức của Ni trưởng.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt giai đoạn bảo vệ cầu Hàm Rồng từ năm 1963 đến 1972, chùa Tranh không chỉ là nơi tu hành mà còn trở thành một địa điểm gắn với các hoạt động phục vụ hậu phương, tiền tuyến.

Khi máy bay địch đánh phá, Ni trưởng cùng bà con Phật tử lên đồi chặt cây mốc – một loại cây có lá nhỏ, dai và dày – mang về trận địa để ngụy trang cho các khẩu pháo của bộ đội.

Trong chùa, những nồi chè xanh lớn liên tục được nấu. Cơm, cháo được chuẩn bị để tiếp tế cho bộ đội, công binh và lực lượng thanh niên xung phong.

Các Ni trong chùa cũng tích cực chăn nuôi, tăng gia sản xuất, góp phần cung cấp lương thực, thực phẩm phục vụ tiền tuyến.

IMG

Đặc biệt, chùa Tranh cùng chùa Nam Ngạn trở thành nơi chăm sóc thương bệnh binh.

Những chiến sĩ bị thương từ khu vực cầu Hàm Rồng được đưa về chùa Nam Ngạn sơ cứu. Khi tình hình ổn định, một số người được bí mật chuyển về chùa Tranh để tiếp tục chăm sóc.

Ni trưởng cùng Phật tử ngày đêm giặt giũ, nấu cháo, sắc thuốc, chăm sóc từng vết thương, cho đến khi các chiến sĩ hồi phục để trở lại đơn vị.

Trong những năm tháng ấy, hình ảnh người tu hành không chỉ hiện diện bên bàn kinh, trước án Phật, mà còn ở giữa những công việc rất đời thường: một nồi cháo nóng, một chén thuốc, một bộ quần áo được giặt sạch hay một bàn tay chăm sóc người đang đau đớn.

Đó cũng là một cách thực hành lòng từ bi.

Từ Giữ Chùa Đến Xây Dựng Phật Giáo Thanh Hoá

Sau khi cụ Tổ Thích Đàm An viên tịch, những người từng là chỗ dựa tinh thần của Ni trưởng lần lượt vắng bóng. Người học trò năm xưa phải tự mình đứng vững, vừa gìn giữ chốn Tổ, vừa tiếp tục con đường hoằng truyền Phật pháp.

Nhưng trách nhiệm ấy không dừng lại ở phạm vi một ngôi chùa.

Khi Phật giáo Thanh Hóa bắt đầu xây dựng tổ chức, mọi thứ gần như phải bắt đầu từ con số không.

Thời điểm ấy, toàn tỉnh có 11 ngôi chùa, nhưng để hình thành Ban Đại diện Phật giáo tỉnh Thanh Hóa, Ni trưởng phải đi vận động từng nơi. Những chuyến “xe lai” vượt qua những con đường đất đỏ gập ghềnh đưa Ni trưởng đến với các ngôi chùa xa xôi.

Ở mỗi nơi, Ni trưởng gặp gỡ các bậc tôn túc, thăm hỏi, động viên và thuyết phục các vị cùng tham gia việc chung của Giáo hội.

Không phải nơi nào cũng dễ dàng đồng thuận.

Có những vị chỉ muốn chuyên tâm tụng kinh niệm Phật, không muốn tham gia các hoạt động xã hội. Có nơi còn tồn tại những định kiến đối với việc một vị Ni đứng ra vận động công việc chung.

Không tranh luận bằng lời lẽ gay gắt, người chọn cách đến từng nơi, giải thích, thuyết phục bằng sự chân thành.

Khi gặp những vấn đề liên quan đến đời sống của các chùa, trong đó có việc ruộng đất chưa được bàn giao khiến một số cơ sở không có điều kiện sản xuất, Ni trưởng trực tiếp đến làm việc với chính quyền địa phương.

IMG

Thông điệp mà Ni trưởng kiên trì chia sẻ rất giản dị: Phật giáo hướng con người đến điều thiện, góp phần xây dựng đời sống lành mạnh và sự bình yên trong cộng đồng.

Sau nhiều nỗ lực, từ 11 ngôi chùa, Ban Đại diện Phật giáo tỉnh Thanh Hóa ban đầu quy tụ được bảy vị sư tham gia.

Ni trưởng được tín nhiệm đảm nhiệm vai trò Trưởng ban trong thời gian đầu. Sau đó, Ni trưởng cung thỉnh Hòa thượng Thích Thanh Cầm, chùa Thanh Hà, đảm nhận trọng trách lãnh đạo.

Từ những bước đi ban đầu ấy, Phật giáo Thanh Hóa từng bước xây dựng nền tảng tổ chức, tạo tiền đề cho sự phát triển về sau.

Một Đời Người, Một Ngọn Đèn Chánh Pháp

Thời gian trôi qua.

Những người đồng tu, đồng sự năm xưa như cụ Sùng Nghiêm Diên Thánh, cụ Thanh Hà, cụ chùa Gia Đầu… lần lượt viên tịch.

Những người từng cùng nhau gánh vác Phật sự của một thời gian khó giờ chỉ còn lại trong ký ức.

Nhưng với Ni trưởng, sự tiếp nối chưa bao giờ dừng lại.

“Tre già thì măng mọc”, người dành những năm tháng cuối đời để nâng đỡ, dìu dắt thế hệ Tăng Ni trẻ, mong sao ngọn đèn Chánh pháp tiếp tục được truyền trao.

Nhìn lại những đổi thay của quê hương và Phật giáo Thanh Hóa, Ni trưởng cho rằng những điều kiện thuận lợi hôm nay là kết quả của một chặng đường dài.

Chùa chiền ngày càng khang trang. Phật tử ngày càng đông. Hoạt động Phật giáo ngày càng có điều kiện phát triển.

Nhưng cùng với sự phát triển ấy, người luôn nhắc hàng hậu học phải biết trân quý đạo pháp và nghiêm trì giới luật.

Bởi theo Ni trưởng, hình thức bên ngoài có thể đổi thay theo thời gian, nhưng nền tảng của người tu vẫn phải là giới, định, tuệ và sự chân thành đối với con đường mình đã chọn.

Giữ lại câu kinh qua một thế kỷ

Nếu phải chọn một điều để nói về cuộc đời mình, Ni trưởng không nói về những chức vụ từng đảm nhiệm, cũng không nói về những phần thưởng hay sự ghi nhận.

Suốt cuộc đời tu học, kinh Dược Sư và kinh A Di Đà luôn là chỗ nương tựa tinh thần sâu sắc.

Những câu kinh đã được học từ thuở còn là một chú tiểu nhỏ bé trong ngôi chùa nghèo, qua chiến tranh, qua những năm tháng gian lao, qua những chuyến đi vận động Phật sự và qua cả những đổi thay của quê hương, vẫn không phai mờ.

Đến tuổi ngoài trăm, khi nhắm mắt lại, Ni trưởng vẫn có thể đọc những câu kinh đã thuộc lòng từ thuở thiếu thời:

“Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại…”

Có lẽ, đó chính là dấu ấn sâu đậm nhất của một đời tu.

Một đời người có thể đi qua chiến tranh và hòa bình, đi qua nghèo khó và những ngày Phật giáo phát triển, đi qua những chức vụ và trách nhiệm, rồi cuối cùng trở về với sự tĩnh lặng của chốn Tổ.

Nhưng câu kinh đã học từ thuở ban đầu vẫn còn đó.

Tiếng chuông đã nghe từ thuở ấu thơ vẫn còn vọng lại.

Và những giá trị được trao truyền từ thế hệ trước vẫn tiếp tục được gửi gắm cho thế hệ sau.

Năm 2021, Huân chương Đại đoàn kết Dân tộc được trao tặng cho Ni trưởng Thích Đàm Nhung là một sự ghi nhận đối với những đóng góp của người trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

IMG

Nhưng vượt lên trên một tấm Huân chương, cuộc đời Ni trưởng còn để lại một di sản khác – âm thầm hơn nhưng bền bỉ: đó là hình ảnh một người tu hành đã dành gần trọn cuộc đời để giữ gìn chốn Tổ, phụng sự đạo pháp, đồng hành cùng quê hương và truyền trao ngọn lửa tu học cho những thế hệ tiếp nối.

Từ ánh sáng le lói của cây hương sào năm nào đến những ngôi chùa khang trang hôm nay là cả một hành trình dài.

Và trong hành trình ấy, Ni trưởng vẫn giữ nguyên một niềm tin giản dị:

Giữ được lời kinh, giữ được tiếng chuông và giữ được tâm nguyện phụng sự, ấy đã là hạnh phúc lớn của một đời người tu.

Cư sĩ Long Khả Nam kính bút

Bình luận