“Tưởng niệm Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh An, pháp húy thượng Minh hạ An, tự Siêu Tuệ, trong ngày lễ truy điệu và phụng tống kim quan tại chùa Linh Sơn Đà Lạt“
PGVDN – Sáng nay, trong không khí trang nghiêm của tang lễ Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh An tại chùa Linh Sơn, Sư Viên Thức đã ghi vào sổ tang bốn câu thơ:
Sống đã không gì chết cũng không
Trăm năm cõi tạm vấn vương lòng.
Giang san vũ trụ ai là chủ
Vạn kỷ xuân tàn trở lại Đông.

Mấy dòng thơ ngắn mà mở ra cả một miền suy tưởng. Giữa khói trầm, tiếng kinh và bóng người lặng lẽ cúi đầu, bốn câu ấy không chỉ là lời tiễn biệt một bậc tôn túc, mà còn như một bài kệ đặt trước cửa sinh tử. Chữ “không” trong câu thơ không phải cái không lạnh lẽo của hư vô, mà là cái không của trí tuệ Bát Nhã, nơi mọi danh tướng được nhìn bằng con mắt tỉnh thức: thân này là hợp duyên, đời này là tạm gửi, còn mất chỉ là hai bờ của một dòng nước đang trôi.

Người đời thường sợ chia lìa vì còn chấp vào hình bóng. Người học đạo nhìn cuộc tiễn đưa bằng lòng bi mẫn, nhưng không rơi vào tuyệt vọng. Một bậc chân tu rời bỏ báo thân, ấy là điều khiến lòng người kính tiếc; song trong chiều sâu Phật pháp, đó cũng là một cuộc trở về. Về nơi lặng lẽ nhất của tâm. Về phía không còn tiếng được mất. Về miền mà gió bụi nhân gian không thể làm lay động.
Hòa thượng Thích Minh An là một dáng hình như thế trong ký ức của những người từng thân cận chùa Linh Sơn Đà Lạt. Cuộc đời Ôn không nên được kể như một bản liệt kê chức danh, bởi chức danh chỉ là phần nổi trên mặt nước. Điều còn lại sâu hơn là nếp sống, khí chất, đạo phong và cái vị an nhiên mà Ôn âm thầm trao lại cho người đời.
Từ miền quê Xuân Thiên, Phú Vang, Huế, nơi ngôi chùa làng đứng bên giếng nước và bóng cây, duyên Phật đã sớm gieo vào tâm hồn chú bé Minh An. Thuở nhỏ, chú thường lui tới chùa, lặng nhìn tượng Phật Đản Sanh, rồi cùng bạn bè nặn tượng Phật bằng đất sét. Đó không phải là trò chơi thông thường của tuổi thơ. Nhìn lại, dường như trong nắm đất sét thô sơ ấy đã có một hạt giống Bồ đề âm thầm nảy mầm.
Năm chín tuổi, chú xin cha mẹ cho vào chùa ở hẳn. Từ đó, tiếng chuông, câu kinh, nếp sống thanh đạm trở thành hơi thở thường ngày. Chú học chữ, học kinh, học cách cúi đầu trước Phật và trước chính lòng mình. Rồi từ chùa làng, bước chân học đạo đưa chú đến Huế, vào chùa Từ Đàm, được Ôn Thích Đôn Hậu chỉ dạy. Cậu học trò nhỏ ấy vốn thông minh, hiếu học, từng theo học Quốc Học, rồi về sau lên Đà Lạt, nương nơi chùa Linh Sơn, học trường Bồ Đề.

Đời Ôn có một nét rất riêng: Là người tu, vừa là người đọc sách, viết văn, làm thơ, suy tư triết học. Khi vào Sài Gòn học Đại học Vạn Hạnh, khoa Triết học, thầy Minh An đã cộng tác với tạp chí Tư Tưởng Vạn Hạnh và dùng bút hiệu Siêu Tuệ. Hai chữ “Siêu Tuệ” nghe như tiếng gọi của một thời trí thức Phật giáo: học để vượt qua cái biết thông thường, viết để đánh thức điều sâu kín nơi tâm thức, sống giữa đời mà vẫn giữ một vùng lặng cho đạo.
Năm 1972, sau khi hoàn tất cử nhân, thầy trở về chùa Linh Sơn, tiếp tục tu học, giảng dạy triết học, viết báo, làm thơ, sinh hoạt với sinh viên Phật tử. Ở thầy không có dáng vẻ xa cách của người đứng ngoài nhân gian. Thầy gần gũi với bằng hữu, với văn chương, với những tâm hồn thao thức. Nhưng sự gần gũi ấy không làm phai đi phong thái người tu. Trái lại, nó cho thấy một tinh thần Phật giáo rộng mở: đạo không đóng cửa trước cuộc đời, đạo đi vào cuộc đời để làm dịu những khô cằn của cuộc đời.
Sau biến động thời cuộc, đời sống tu hành bước qua nhiều nẻo khó. Có những năm tháng thiếu thốn, chật vật, có những đổi thay khiến nhiều người phải rời bỏ nếp cũ. Nhưng thầy Minh An vẫn giữ đường xuất gia. Không phải bằng lời tuyên bố lớn lao, mà bằng sự ở lại thầm lặng. Có những lựa chọn không cần ghi trên bia đá, vì chính đời sống đã là minh chứng. Ở lại với chùa, với đạo, với chiếc áo nâu sòng, ấy là cách một người tu tự trả lời trước vô thường.

Một thời, thầy dựng am nhỏ trên triền đồi dọc đèo Prenn. Nơi ấy có hoa nhất chi mai, có sương núi, có đá lạ, có những cuộc tao ngộ của nhóm bạn thơ văn. Nhà thơ Việt Trang từng cảm khái trước bóng dáng thầy nơi non cao, và thầy cũng từng đáp lại bằng những câu thơ cô tịch, phảng phất phong vị tiêu dao:
Đêm khuya một mình cười với trăng.
Ngoài vạn dặm nẻo xa trời mù mịt.
Một mình ta với bóng mãi phiêu du
Nên cũng nhớ trần gian hoài không ít.

Câu “nhớ trần gian” ấy làm người đọc dừng lại. Một người tu không nhất thiết phải lạnh lùng với thế gian. Thương đời mà không bị đời trói, nhớ đời mà không chìm trong đời, ấy mới là chỗ khó. Có lẽ vì vậy, nơi Ôn, người ta thấy được sự pha hòa giữa chất thiền và chất nghệ sĩ, giữa tịch mặc và nhân tình, giữa đạo vị và phong lưu.
Những năm tháng sau này, Ôn trở về với chùa Linh Sơn, sống giản dị trong chiếc liêu nhỏ, bên sách vở và bàn trà. Bạn thơ thưa dần, pháp lữ cũng lần lượt già đi, nhưng Ôn vẫn giữ nụ cười hiền hậu, tiếng nói nhẹ, cái nhìn như đã đi qua nhiều mùa nhân thế. Có lần Ôn nói đại ý rằng mình vui với đời sống an nhiên, rồi đến khi đủ duyên thì an nhiên xả bỏ thân này. Câu nói ấy không phải lời triết lý, mà là hơi thở của người đã tập sống với buông xả từ lâu.

Và sáng nay, vào lúc 7 giờ ngày 07/5/2026, tức ngày 21 tháng 3 năm Bính Ngọ, lễ truy điệu Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh An được cử hành. Chùa Linh Sơn trong buổi tiễn đưa ấy không chỉ là nơi diễn ra một nghi lễ thiền môn, mà trở thành khoảng trời lắng đọng của bao tấm lòng. Chư Tôn đức, môn đồ pháp quyến, các phái đoàn và Phật tử cùng hiện diện, không phải chỉ để đưa tiễn một sắc thân, mà để cúi đầu trước một hành trình tu học bền bỉ.
Sau lễ truy điệu, Ban Tổ chức và môn đồ pháp quyến cung thỉnh chư Tôn đức, các phái đoàn cùng toàn thể Phật tử phụng tống kim quan Trưởng lão Hòa thượng trà-tỳ tại Đài hóa thân Hoàn Vũ, Đà Lạt. Lửa trà-tỳ đón lấy thân tứ đại, nhưng không thể thiêu đi đạo hạnh. Khói có thể tan trong trời cao, nhưng hương giới đức vẫn còn lưu trong lòng người ở lại. Những ai từng nghe Ôn nói, từng đọc thơ Ôn, từng ngồi trong không gian chùa Linh Sơn, hẳn sẽ hiểu rằng có những cuộc ra đi không khép lại một đời người, mà mở ra một vùng tưởng niệm.

Giữa mùa Phật Đản đang gần kề, sự viên tịch của Ôn càng khiến lòng người lặng hơn. Ngày Đấng Từ Phụ thị hiện nhắc nhân gian về ánh sáng giác ngộ; sự ra đi của một bậc Trưởng lão lại nhắc ta về lẽ trở về. Một bên là sen nở báo tin Đức Phật đản sinh, một bên là cánh cửa vô thường mở ra trước mắt người học đạo. Hai hình ảnh ấy gặp nhau trong một bài pháp không lời: hãy sống sao cho nhẹ, hãy tu sao cho thật, hãy thương đời nhưng đừng để lòng mắc kẹt giữa cuộc đời.

Bốn câu thơ của Sư Viên Thức vì thế không chỉ còn nằm trên trang sổ tang. Chúng trở thành chiếc gương nhỏ để người đọc tự soi mình. Giang sơn kia ai làm chủ được mãi? Vũ trụ kia ai nắm giữ trong tay? Trăm năm rốt cuộc chỉ là một nhịp thở dài. Xuân tàn rồi Đông lại đến, Đông hết lại có mùa mới. Chỉ có công hạnh của người tu, nếu đã thấm vào đời bằng từ bi và trí tuệ, thì còn mãi như mạch nước ngầm dưới chân núi.
Xin cúi đầu tiễn Ôn bằng lòng tri ân thanh tịnh. Người đi rồi, nhưng dáng Ôn vẫn còn trong nếp chùa Linh Sơn, trong ký ức pháp lữ, trong câu thơ tri âm, trong những trang sách cũ, trong niềm kính ngưỡng của bao người hữu duyên.
Kính nguyện Giác linh Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh An cao đăng Phật quốc, bất xả Ta bà đạo hạnh của Ôn còn lưu mãi giữa chốn Linh Sơn và trong lòng người hữu duyên
Tư liệu lược thuật từ bài “An bình một đời tu” của Phạm Thị Mai Hương và các ghi chép tưởng niệm Hòa thượng Minh An.
PV Trần Long/PGVDN















