Con đường và hệ quả của nhập thế

Đạo Phật khi truyền sang các nước trên thế giới, nó cần phải thay hình đổi dạng để thể nhập theo tinh thần “tùy duyên bất biến”. Cụ thể, mọi thứ thuộc về hiện tướng của Phật Giáo đều được thay đổi, như: phương pháp tu tập, tổ chức Tăng già, mô hình sinh hoạt, cách ăn mặc, màu sắc y phục, v.v. Phật giáo Việt Nam chúng ta xét về lịch sử truyền giáo thì hầu như phần lớn ảnh hưởng từ Trung Hoa, cho nên, trong đây chúng ta điểm qua vài nét tiêu biểu về con đường nhập thế của Phật giáo từ Trung Hoa đến Việt Nam.

Anh huong cua phat giao doi voi nhan loai

Khi đến với vùng Á Đông, hình thái Phật giáo hầu như biến chuyển cực đại. Để chia sớt sự vất vả của con người về phương tiện vật thực, vị Tỳ kheo của phong thái mới này không còn chờ đến giờ ôm bát đi khất thực nữa, mà các vị đã tự túc sản xuất ra vật thực. Việc tự túc kinh tế thiền môn đã dần dần trở nên rõ ràng, cụ thể, nổi tiếng qua các giai thoại trong lịch sử Phật giáo. Tổ sư Bách Trượng – Trung Hoa có câu nói bất hủ:

“Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực.” (Một ngày không làm, một ngày không ăn).

Trong thời kỳ cận đại, giai đoạn chấn hưng Phật giáo Trung Hoa, Thái Hư Đại Sư còn có những quy định cụ thể về “tam giáo”: giáo lý, giáo chế, giáo sản. Điều này cho thấy Phật giáo từng bước cải tiến để song hành cùng đà phát triển của mỗi giai đoạn lịch sử xã hội.

Tại Việt Nam, vào khoảng thập niên 1960, 70, để đủ điều kiện kinh tế nuôi dạy Tăng chúng tại Phật Học Viện Hải Đức – Nha Trang, Hòa thượng Thích Đỗng Minh đã đứng ra thành lập các hãng sản xuất vị trai, đèn cầy, xà phòng… bằng kỹ thuật tiên tiến nhất lúc bấy giờ. Cuộc đời dành trọn cho hành trì giới luật, đào tạo Tăng tài của Hòa thượng còn được lưu lại bằng một câu nói hết sức sống động, thể hiện cực độ
tính chất nhập thế tu hành: “Còn nhỏ đi học thì học chết bỏ, khi ra làm việc thì làm việc chết bỏ, về già tu thì tu chết bỏ.” Chữ “chết bỏ” nghe đậm chất miền Trung quê hương Bình Định của Ngài, vừa chân chất vừa quyết đoán. Và đúng như khẩu quyết ấy, Ngài đã thể hiện trọn vẹn một đời sống mẫu mực tu hành và cống hiến cho Đạo pháp. Đến cuối đời, Ngài vượt thắng bệnh duyên thị tịch trong tư thế cát tường. Bảo tháp hiện đang nghiêm trang biểu hiện trên đồi Trại Thủy – Nha Trang.

Một sự phát triển bao giờ cũng có hai mặt. Nếu không ý thức rõ cái cần thiết là “đem Đạo vào đời”, thì vô tình Phật giáo sẽ bị “nhiễm đời vào Đạo”, hay nặng hơn nữa là “thế tục hóa Phật giáo” thay vì “hiện đại hóa Phật giáo”. Sự nhập thế của Phật giáo hiện đại cũng hiển nhiên đi kèm với những hạn chế nhất định, vì nhập thế thì phải gắn liền với kinh tế, xã hội, chính trị, nghệ thuật… Một nhà sư thay vì chỉ chú trọng thời gian cho việc thiền định thì bây giờ phải bỏ ra rất nhiều thì giờ để học tập, nghiên cứu cho kịp với đà tiến của xã hội. Giả sử tham gia làm kinh tế, thì nhà sư ấy bắt buộc phải hiểu rõ quy luật cung cầu, phương thức sản xuất, thị hiếu khách hàng, yếu tố cạnh tranh, v.v. Đầu óc của những vị ấy sẽ dần dần phai nhạt “Chư pháp vô ngã, chư hành vô thường, Niết Bàn tịch tịnh”, mà phải tô đậm lên hình ảnh của những con số, công thức, mô hình, cơ cấu tổ chức, v.v.

Dao gian di

Tham gia tổ chức, nghệ thuật, văn hóa, nhà sư bắt buộc phải đầu tư nhiều hơn về phương tiện vật chất: xe máy, xe hơi, điện thoại di động, internet, thậm chí bill điện nước, hợp đồng thuê mặt bằng, nhà đất, vân vân và vân vân. Nếu không bám sát vào mục đích cơ bản là “sử dụng phương tiện để cứu đời” thì chắc chắn hình ảnh một nhà sư không khác chi người thế tục, thậm chí có thầy cô còn giàu có, xa hoa hơn cả một người thế tục. Dù sao những vấn đề “hơn cả phương tiện” này vẫn còn dễ chịu hơn nếu một nhà sư tham gia chính trị. Nhìn lại lịch sử đất nước ta, có nhiều nhà sư tham chính rất đáng tôn sùng như Vạn Hạnh thiền sư, Khuông Việt quốc sư là cố vấn hoàng gia, Phật Hoàng Trần Nhân Tông tuy thân đã xuất gia, tu hành giải thoát vẫn đích thân tham chính, đi tìm hiểu ban giao với Chiêm Thành. Ngày nay, nhà sư mà dính líu vào chính trị thì chắc chắn không dễ thở chút nào: biết cách mưu tính, đầu óc cang cường, vận động đấu tranh, rồi hệ quả là bị rêu rao, chửi bới, chụp mũ… Thế thì thời gian đâu mà tu niệm, không gian nào để tĩnh tọa, tư duy nào để quán chiếu vô ngã, vô thường? Thật khó thay!

Nhận định về con đường nhập thế, nếu bỏ qua sự lợi dụng phương tiện để bảo chứng cho hành vi ham muốn của một số cá nhân, thì vấn đề ứng dụng khoa học kỹ thuật vào việc hành đạo, hóa đạo là một vấn đề rất cần thiết, cấp bách cho Phật giáo và nên được khuyến tấn phát huy liên tục. Vì con đường này không dừng lại, mà vẫn tiếp tục dọc theo sự biến chuyển của cuộc đời, để có hành động “đi ngược dòng đời” mà ứng dụng, chuyển hóa.

Rải rác trong khắp các kinh điển, những lời dạy về sự dấn thân đem Phật Pháp vào đời rất rõ ràng sống động. Trong kinh A Di Đà, có đoạn: “Nhặt tất cả các loại hoa thơm, đi cúng dường 10 phương chư Phật, sau đó trở về quốc độ phạn thực, kinh hành”. Đoạn kinh trên tả cảnh nhân dân ở cõi Cực Lạc mỗi ngày trau dồi tất cả công đức an tịnh, thơm hương (hoa ở đây là chỉ cho đức hạnh, các việc lành), hướng những
việc lành ấy về các cõi, không phân biệt, không giới hạn. Con số mười là con số tượng trưng cho sự trọn vẹn, đầy đủ. Cho thấy, cảnh sống lý tưởng “Cực Lạc” thật ra là một lối sống tích cực tại nhân gian, mà ở đó chúng sanh tu tập càng tinh tấn hơn, sống đời sống vị tha cao cả hơn, sống có lợi cho số đông nhiều hơn.

Một bản kinh Đại Thừa khác là kinh Pháp Hoa. Trong kinh này, phẩm Phổ Môn kể về công hạnh của Bồ tát Quán Thế Âm có 32 ứng thân. Trường hợp cần sử dụng thân nào để đối tượng dễ được hóa độ, thì Ngài liền hiện thành thân đó để thuyết pháp. Ngài có thể biến hiện thành nhiều ứng thân khác: Trưởng giả, em bé thơ, tiên, rồng, nhạc sư, quan lớn hay thần Kim Cang … Đây là một hình thái biểu tượng cho sự nhập thế rất cao cả của Phật giáo Đại Thừa. Bất kỳ tình huống nào, trường hợp nào, một vị Bồ tát đều không phân biệt, có khả năng thể nhập, tiếp cận và dùng phương tiện quyền biến để hóa giải. Phải nói rằng, hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm là đỉnh cao của nghệ thuật ẩn dụ cho sự nhập thế cứu đời.

Trong kinh Dược Sư, nếu ai đã từng trì tụng thì chắc chắn nhớ câu: “Giải kiết, giải kiết, giải oan kiết”. Chữ “giải kiết” được lập đi lập lại rất nhiều lần, không chỉ trong câu ngắn bảy chữ này mà còn trong cả bản kinh nữa. Bao nỗi oan khiên, oán kết mà ta đã tự tạo, tự kết dài lâu qua nhiều đời nhiều kiếp, giờ đây nhờ giọt Cam lồ mát dịu này mà được tiêu tan. Ngoài ra, đối với những oán kết bên ngoài thân tâm ta cũng thế, nhờ liều thuốc Từ Bi, tinh thần xả kỷ vị tha, hành giả có thể làm mát dịu và dần dần dập tắt những mối oán kết giữa người với người, giữa đất nước với đất nước, v.v. Cho nên, bản kinh Dược Sư cũng ẩn chứa một nghệ thuật nhập thế chính trị rất cao, là lộ trình giải kết hận thù giữa các đối tượng với nhau.

Kinh Pháp Cú, một bản kinh sưu tập những lời dạy ngắn gọn xúc tích của Đức Phật, cũng ẩn chứa nhiều lời dạy sâu sắc về sự dấn thân của hành giả Phật giáo. Câu Pháp cú số 49 đúc kết nên hình ảnh một vị sư với phong thái ung dung đi vào làng khất thực, gieo trồng chất liệu từ bi vào lòng người, rồi cũng ung dung bước đi, không luyến tiếc, không vướng bận, như con ong tới hút mật rồi đi, không làm hại đến hoa:

Như ong đến với hoa,
Không hại sắc và hương,
Che chở hoa, lấy nhụy.
Bậc Thánh đi vào làng.
Không nên nhìn lỗi người,
Người làm hay không làm.
Nên nhìn tự chính mình,
Có làm hay không làm.

THÍCH ĐẠO QUANG















GIEO DUYÊN CÙNG CHÁNH PHÁP

Trang Phật giáo và Doanh nhân được duy trì bằng tâm nguyện xiển dương Phật pháp, phi lợi nhuận. Nếu thấy pháp duyên này có ích, xin cùng chung tay nuôi dưỡng ánh sáng hiểu và thương lan tỏa.
Screenshot 2026 03 17 at 11.56.08
STK: 8871562590
NH TMCP Đầu tư & PT Việt Nam
(ND: Họ tên + tài thí XD Đạo Pháp)

Bình luận

Mời đọc thêm

Xem nhiều

Banner loigioithieu2

Đơn vị tài trợ

D8143c5a 4605 40f1 a1d7 3ac3f55fbd35