Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, chịu nhiều ảnh hưởng của triết lý Phật giáo. Nhân dịp kỷ niệm ngày sinh nhật Bác (19/5/1890 – 19/5/2023), trân trọng giới thiệu một số tư tưởng của Bác Hồ với Phật giáo.

Phật giáo ra đời ở Ấn Độ vào cuối thế kỷ VI (trước Công nguyên) và ngày nay trở thành một trong những tôn giáo lớn của thế giới (Công giáo, Phật giáo, Islam giáo, Tin lành…). Phật giáo được truyền vào Việt Nam khoảng thế kỷ I đầu Công nguyên và trở thành quốc giáo thời Lý – Trần. Phật giáo đã sớm hòa mình cùng dòng chảy lịch sử dân tộc, đi sâu bám rễ bền chặt trong đời sống và tạo được sức cuốn hút diệu kỳ, ảnh hưởng sâu sắc đối với người dân Việt Nam. Những triết lý từ bi, hỉ xả, vô ngã, vị tha của Phật giáo như suối nguồn tươi mát, thấm đượm trong tính cách, tinh thần Việt Nam theo năm tháng: “Đạo Phật là một tôn giáo giàu tình thương yêu và chuộng hòa bình. Với lý tưởng nhân văn bình đẳng và do có ít tham vọng giữ vị trí ‘thần quyền’ trong xã hội nên đạo Phật dễ gắn bó với quần chúng, gần gũi với quan điểm nhân đạo cộng sản và nói chung có thái độ tích cực trong cuộc đấu tranh cho sự bình đẳng, giải phóng con người và rất tự giác trong giáo hóa quần chúng”1.
Lúc sinh thời, Bác Hồ đã thấy rõ nỗi thống khổ của đồng bào bị áp bức bóc lột và Người cũng thấy rõ vị trí vai trò của tôn giáo trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, nhất là với Phật giáo Việt Nam – một tôn giáo luôn gắn bó, đồng hành với đất nước, với dân tộc Việt Nam qua nhiều thế kỷ. Trong công tác tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo. Trong bản Tuyên ngôn độc lập, quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng và chúng ta thấy trong đó bao hàm cả quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Quan điểm, tư tưởng ứng xử của Bác Hồ với tôn giáo và Phật giáo nói riêng đã được các nhà khoa học, học giả trong và ngoài Giáo hội Phật giáo Việt Nam quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau; Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã tiếp thu những tinh hoa của Phật giáo Việt Nam và áp dụng trong thực tiễn cuộc sống. Một số ví dụ cụ thể, vào ngày 05 tháng 01 năm 1946, Bác Hồ về dự lễ cầu siêu các chiến sĩ hy sinh vì Tổ quốc tại chùa Bà Đá, Người đã căn dặn: “Việc Phật không xa rời thế gian, phải tham gia vào công việc của cách mạng, cứu đói, cứu dốt”; trong thư gửi Hội Phật tử Việt Nam ngày 30 tháng 8 năm 1947 (tức ngày 15 tháng 7 âm lịch), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Từ ngày nước ta trở nên Dân chủ Cộng hòa, Hiến Quan điểm, tư tưởng ứng xử của Bác Hồ với tôn giáo và Phật giáo nói riêng đã được các nhà khoa học, học giả trong và ngoài Giáo hội Phật giáo Việt Nam quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau; Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã tiếp thu những tinh hoa của Phật giáo Việt Nam và áp dụng trong thực tiễn cuộc sống. Một số ví dụ cụ thể, vào ngày 05 tháng 01 năm 1946, Bác Hồ về dự lễ cầu siêu các chiến sĩ hy sinh vì Tổ quốc tại chùa Bà Đá, Người đã căn dặn: “Việc Phật không xa rời thế gian, phải tham gia vào công việc của cách mạng, cứu đói, cứu dốt”; trong thư gửi Hội Phật tử Việt Nam ngày 30 tháng 8 năm 1947 (tức ngày 15 tháng 7 âm lịch), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Từ ngày nước ta trở nên Dân chủ Cộng hòa, Hiến pháp ta tôn trọng tự do tín ngưỡng thì Phật giáo cũng phát triển một cách thuận tiện. Bọn thực dân Pháp muốn cướp nước ta. Chúng đốt chùa chiền, phá tượng Phật…, nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải, xương máu…, làm theo lòng đại từ bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái ải nô lệ”2.

Nhân sinh quan Hồ Chí Minh có ảnh hưởng của triết lý Phật giáo một cách sâu sắc và căn bản. Triết lý bi, trí, dũng của nhà Phật đã định hình nên nhân cách tấm gương đạo đức nhân bản Hồ Chí Minh. “Từ – Bi” vốn là hai trong bốn tâm mà người con Phật cần đạt đến để có được cuộc sống an vui, là cửa ngõ để đến với tâm “Hỉ – Xả”, thường được gọi là “Tứ vô lượng tâm” nghĩa là bốn tâm rộng lớn, bao trùm vạn vật, mang đến vô lượng an lạc cho bản thân và chúng sinh. Triết lý vô ngã đã hun đúc tâm hạnh của Bác Hồ. Vô ngã là tiến trình tu tâm không còn chấp thủ mọi hoạt động gây khổ ưu, phiền não cho bản thân và mọi người nói theo thế tục và vô ngã còn là Nhân sinh quan Hồ Chí Minh có ảnh hưởng của triết lý Phật giáo một cách sâu sắc và căn bản. Triết lý bi, trí, dũng của nhà Phật đã định hình nên nhân cách tấm gương đạo đức nhân bản Hồ Chí Minh. “Từ – Bi” vốn là hai trong bốn tâm mà người con Phật cần đạt đến để có được cuộc sống an vui, là cửa ngõ để đến với tâm “Hỉ – Xả”, thường được gọi là “Tứ vô lượng tâm” nghĩa là bốn tâm rộng lớn, bao trùm vạn vật, mang đến vô lượng an lạc cho bản thân và chúng sinh. Triết lý vô ngã đã hun đúc tâm hạnh của Bác Hồ. Vô ngã là tiến trình tu tâm không còn chấp thủ mọi hoạt động gây khổ ưu, phiền não cho bản thân và mọi người nói theo thế tục và vô ngã còn là sự tu tập vượt vòng sinh tử luân hồi theo pháp môn đạo Phật.
Triết lý hiếu sinh và những vấn đề thiện – ác trong luân lý nhà Phật cũng được Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo. “Cuộc đời Người là nối tiếp những nỗ lực phấn đấu để ngăn chặn, cải tạo, xóa bỏ cái ác, vì mọi sự tốt lành cho con người. Người chính là tấm gương sáng của hạnh hiếu sinh. Chính vì lòng hiếu sinh cho nên khi nhìn thấy cảnh nồi da xáo thịt, thấy cảnh áp bức, bóc lột, cảnh lầm than chết chóc của nhân dân, Bác đã ra đi tìm đường cứu nước để giải phóng cho dân tộc…”, “Tâm cao sâu của đức hiếu sinh Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ, trong khi buộc phải đấu tranh chống lại kẻ thù dân tộc, người luôn phân biệt rạch ròi giữa giới cầm quyền hiếu chiến Pháp với nhân dân lao động, yêu chuộng hòa bình Pháp; phân biệt guồng máy chiến tranh tàn khốc của thực dân Pháp với những người lao động buộc phải khoác áo lính viễn chinh. Trong quá trình lãnh đạo toàn dân kháng chiến, Hồ Chí Minh luôn luôn mong muốn và căn dặn phải hạn chế đến mức cao nhất sự đổ máu, sự hy sinh của chiến sỹ, đồng bào và cả quân đội của đối phương. Chính vì lẽ đó, người luôn đề cao công tác binh vận, luôn nhắc nhở chiến sỹ, cán bộ thực hiện đúng chính sách nhân đạo đối với tù binh…”3.
Trong quá trình đưa đất nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền độc lập dân tộc, Người luôn quan tâm đến nhân dân lao động. “Làm cho người nghèo thì đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm”4. Triết lý Phật giáo, tiêu biểu là tư tưởng lục hòa và hạnh tinh tiến, tự giác vị tha cũng là những yếu tố căn bản làm nên cốt cách, nhân sinh quan Hồ Chí Minh.
Tinh tiến là yếu tố quan trọng trong việc tu tập của nhà Phật. Nhờ tinh tiến con người mới vượt qua được những nghiệp quả để định tâm và phát tuệ. “Tinh tiến – Thiền định – Trí tuệ” là những triết lý ăn sâu vào đời sống tu tập của Phật giáo. “Điều cao quý trong hạnh tinh tiến của Hồ Chí Minh chính là ở chỗ, Người luôn bền bỉ học hỏi không phải cho mình, không phải vì mục đích theo đuổi khoa bảng để “vinh thân phì gia” hoặc vì tấm cơm manh áo. Với Hồ Chí Minh, học tập, rèn luyện, tinh tiến không phải là nhồi nhét tri thức sách vở, hoặc “tầm chương trích cú”, mà học đi đôi với hành, học để hành động, để làm cách mạng, để đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân loại, con người; để sáng tạo, xây dựng một chế độ xã hội công bằng, bác ái”5.
Sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh toát lên một nhân cách lớn – nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh. Người giàu lòng vị tha, bao dung, nhân ái, thấm đượm tinh thần Phật giáo. Nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh là lòng tin vào bản tính thiện – giáo lý mang đậm chất Phật giáo. Ở Người luôn tỏa sáng những tư tưởng cao đẹp, kết tinh những giá trị tinh túy nhất của văn hóa truyền thống dân tộc và của nhân loại, trong đó có các giá trị tư tưởng của Phật giáo. Hòa thượng Kim Cang Tử cũng đã khẳng định: “Hồ Chí Minh, tinh hoa dân tộc, Người là kết tinh mọi truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam, trong đó có truyền thống Phật giáo”6. Nhân cách mang đậm dấu ấn “từ bi, hỉ xả, vô ngã, vị tha, cứu khổ chúng sinh” của Người là một tấm gương đạo đức nhân bản cao cả đối với tất cả mọi người, mọi dân tộc, mọi tầng lớp nhân dân. Lý tưởng sáng ngời ấy của Bác Hồ luôn là ngọn đuốc soi đường cho thế hệ con cháu mai sau.
THS. NGUYỄN ĐỨC DŨNG,
Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính sách tôn giáo
Ban Tôn giáo Chính phủ















