Hoàng Sào sơn Vạn Phúc tự

Vào thời kỳ Edo (1603- 1867) Nhật Bản bắt đầu phổ biến một hình thức uống trà mới: “Phổ trà” và “Tiên trà”. Cả hai hình thức này đều xuất phát từ một ngôi chùa là Vạn Phúc tự ở Kyoto.

Landscape,Of,Kiyomizu dera,Ancient,Temple,At,Sunset,During,Autumn,Season,

Vạn Phúc tự nằm ở vùng ngoại ô là Uji, hơi cách xa so với trung tâm. Tôi ghé thăm chùa vào một ngày cuối xuân đầu hạ. Trạm tàu đến chùa nằm trên cung đường đi tới Nara không hẳn là một điểm du lịch lớn, có lẽ chỉ lưa thưa vài người xuống như một ga xép nhỏ nơi đồng quê.

Vạn Phúc tự được xây dựng vào tháng 5 năm 1661. Thời điểm này cũng là thời điểm mà chùa Bút Tháp ở Việt Nam được xây dựng. Duyên khởi của cả hai ngôi chùa này đều xuất phát từ hai vị danh Tăng có gốc từ Trung Quốc. Chùa Bút Tháp với vai trò của Chuyết Công và các đệ tử của mình tham gia. Chùa Vạn Phúc ở Nhật Bản với sự đóng góp của Ẩn Nguyên (1592-1673). Ẩn Nguyên Hoà thượng kế thừa y bát vào năm 46 tuổi, trở thành trụ trì của chùa Vạn Phúc, bởi tu dưỡng thâm sâu mà được người đời trọng vọng, dần dần trở thành một danh Tăng đương thời.

Đầu thế kỷ 17, bởi sự phát triển mạnh mẽ của con đường mậu dịch trên biển, Nagasaki Nhật Bản trở thành một nơi tụ hội rất đông Hoa kiều vùng Triết Giang, Phúc Kiến. Từ năm 1624 trở đi, ba ngôi chùa Vạn Phúc, Sùng Phúc, Phúc Tế được xây dựng, cả ba đều có đặc trưng phong cách thời Minh. Năm 1649, vị trụ trì đời thứ 2 của chùa Sùng Phúc viên tịch, không có người kế thế. Đệ tử của Ẩn Nguyên được mời đảm nhiệm vị trí trụ trì, nhưng không may vị sư ấy lại qua đời vì tai nạn. Bởi thế người ta lại mời Ẩn Nguyên tới Nhật Bản. Ẩn Nguyên lúc đó đã hơn sáu mươi tuổi, ông cùng với nhiều đệ tử đi thuyền từ Hạ Môn tới Nagasaki.

Lúc này, Mạc phủ đã thực thi chính sách bế quan toả cảng, trừ một số thương nhân đặc biệt mới có thể được buôn bán ở một số khu vực chỉ định, ngoài ra không được phép tự do lên bờ. Vào năm 1658, Mạc phủ ban cho một mảnh đất ở vùng Uji, các nguyên lão địa phương cũng quyên góp tiền để xây dựng chùa. Ẩn Nguyên làm chùa mới xong đặt tên là Hoàng Sào sơn Vạn Phúc tự. Chùa được xây dựng
hoàn toàn căn cứ theo cách thức dựng chùa ở quê nhà. Đảm nhiệm vị trí trụ trì chỉ trong vòng ba năm, ông liền truyền cho đệ tử còn bản thân mình thì ẩn cư tại Tùng Ẩn Đường.

Cuối đời, ngoài chuyên tâm nghiên cứu Phật pháp, ông còn tự mình định ra một bộ Hoàng Sào thanh quy, bộ kinh điển này đã ảnh hưởng đến cách thức phát triển hay quy củ của tông Hoàng Sào. Những gì gọi là văn hoá của thời Minh đều được ông cố gắng bảo lưu một cách chu đáo nhất. Lễ pháp thiền lâm và quy củ đó được truyền tại Nhật Bản. Tông Hoàng Sào cùng với Lâm Tế, Tào Động đồng hành với nhau, hình thành thế kiềng ba chân của Thiền tông.

Do Vạn Phúc tự nằm ở chỗ vắng vẻ, nên không gặp phải quá nhiều những binh lửa loạn lạc, và quan trọng hơn là có một kỳ tích chống được hoả hoạn, cả toàn bộ kiến trúc, điêu khắc, đồ đạc của chùa đều được bảo tồn một cách hoàn chỉnh. Các kiến trúc đều hơn 350 năm trước, trong đó 17 toà kiến trúc được chỉ định là tài sản văn hoá quan trọng.

Cổng chùa cũng không thực sự lớn, phía trước có hai giếng nhỏ gọi là Long Mục tỉnh, đi vào bên trong, phía Đông có một hồ phóng sinh. Đây là một đơn nguyên kiến trúc mà ít thấy trong các kiến trúc của Nhật Bản. Biển của chùa do chính Ẩn Nguyên đề. Sơn môn có một trụ đá, trên có khắc dòng chữ “Không được say rượu bước vào sơn môn” như một lời răn dạy và chấn chỉnh về giới luật đối với người tu hành. Từ sơn môn đi vào, các kiến trúc được xếp thành hàng trục dọc bao gồm điện Thiên vương, điện Đại hùng, Pháp đường, Uy đức điện. Đi về phía sau là Diệu cao phong và Ngũ vân phong, như một phần tựa lưng ôm lấy chùa. Hai bên trục có lầu chuông gác trống, hành lang.

Ngay sau cổng vào là điện Thiên vương được dựng vào năm 1668. Đây là một kiến trúc cực kỳ hiếm gặp, đại điện thờ Phật Di Lặc do Phạm Đạo Sinh (1635- 1670) tạo tác. Phạm Đạo Sinh nhận lời mời của trụ trì chùa Phúc Tế ở Nagasaki tới Nhật Bản để tạo tác tượng, sau lại nhận lời mời của Ẩn Nguyên. Ngoài tượng Di Lặc, Thiên vương Vi Đà và thập bát La Hán tượng cho đến tượng của Ẩn Nguyên về sau cũng đều do Phạm Đạo Sinh chế tác. Tượng Di Lặc thường thấy hiện nay là hình dáng từ Bố Đại Hoà thượng thời Tống. Vào thời Muromachi, Di Lặc được phong thành một trong bảy phúc thần, là một vị thần may mắn. Có điều so với những tượng Di Lặc cười nở rộ thì pho tượng này cười không lấy gì làm từ bi lắm, vì sao lại như vậy, tôi cũng không tìm ra được lời giải đáp…

Qua khỏi điện Thiên vương là Đại hùng bảo điện. Đây là một toà đại điện với kiến trúc mái đao cong vút, mang theo phong cách thời Tống. Vốn dĩ bảo điện có sơn đỏ nhưng hiện giờ đã nhạt màu. Chùa từng tiến hành nhiều lần tu sửa nhưng cũng không quét thêm một lượt sơn mới nào, nhờ vậy mà nó vẫn bảo lưu được chút hương sắc cổ của thời gian, lịch sử. Khá khác biệt với một số khu vực phía trước Đại hùng bảo điện của các chùa ở Trung Quốc hoặc Việt Nam, ở đây có một khoảng trống rộng rãi đầy cát, đặc biệt như các khu vườn sơn thuỷ khô của Nhật Bản, nhưng không có một tảng đá nào được xếp.

Thường trước đại điện, hương khói nghi ngút, nhưng ở đây chỉ đơn thuần bài trí một lò hương nhỏ không có người thắp hương, tất cả đều toát lên vẻ tĩnh lặng, trang nghiêm. Có một đặc điểm tương đối khác biệt, đó là các chùa của Nhật Bản đa phần diên tập truyền thống thời Tuỳ, Đường, đại điện thường dùng từ như Kim điện, Bản đường. Đại hùng bảo điện là danh từ chỉ Phật điện – chính điện mà chỉ tới thời Minh mới được hình thành. Truyền thống này cũng được truyền vào Việt Nam thời điểm thế kỷ 17 với bức hoành phi có thể coi là sớm nhất tại chùa Bút Tháp.

Trong Đại hùng bảo điện có một cây mõ cá lớn, được Tăng nhân sử dụng vào việc tụng kinh. Cùng với việc sử dụng danh xưng Đại hùng bảo điện, trong tự viện bắt đầu xuất hiện mõ cá. Bách Trượng thanh quy có nói: Cá thức đêm ngày, khắc gỗ, tượng hình, gõ vào, để cảnh tỉnh hôn trầm. Có điều vào thời Tống, Nguyên, mõ được tượng hình cá, chủ yếu dùng ở trung đường, để vân tập Tăng chúng; vẫn chưa có kiểu dáng hình tròn dùng để tụng kinh như hiện nay. Về sau, mõ tròn mới dần dần được định hình và chủ yếu được ứng dụng vào thời Minh.

Trong sách Thế giới bách khoa đại sự điển xuất bản năm 1981 có nói, giai đoạn các Tăng sĩ tông Hoàng Sào tới Nhật Bản truyền bá mõ cá, việc tụng kinh sử dụng mõ cá tròn dần dần được ứng dụng rộng rãi trong Thiền, Thiên Thai, Tịnh Độ… Mõ cá ngày nay vẫn còn được sử dụng ở nhiều nơi có thể coi đó là sản phẩm ảnh hưởng từ Phật giáo thời Minh. Riêng mõ ở chùa còn khắc lên nội dung rằng: Cẩn bạch đại chúng, tử sinh việc lớn, vô thường chóng vánh, nên luôn tỉnh giác, đừng để buông trôi.

Bên hông của đại đường còn treo một mõ cá lớn được tạo từ nguyên thân gỗ, miệng ngậm minh châu, đây cũng là một bảo vật của chùa Vạn Phúc. So với tiếng chuông, tiếng trống thì tiếng của khánh mõ cá này có lẽ chỉ mang tính chất tượng trưng và chỉ dùng cho những thông báo mang tính chất nội viện mà thôi, bởi tiếng của gỗ liền thân thì thường đục và khó có thể vang xa.

Một đặc điểm rất khác biệt của ngôi chùa Vạn Phúc đó chính là việc sử dụng hệ thống các câu đối và hoành phi. Các biển hay câu đối trong chùa đa phần đều được các vị đại sư viết, như câu đối của Nguyên Ẩn: “Nhất hát khởi phong vân, Tường quang tăng pháp hỷ”; hay của Mộc Am: “Khí ngạn càn khôn đại, Tâm hùng nhật nguyệt huy” đều uyển chuyển mà thanh thoát. Việc sử dụng câu đối bên trong chùa ở các chùa Nhật Bản cực kỳ hiếm gặp, thế nhưng riêng chùa Vạn Phúc có hơn 44 biển ngạch, 56 đối liễn, đều được coi là tài sản văn hoá quan trọng.

Từ lúc khai sơn cho tới đời thứ 13 thì toàn bộ các vị trụ trì của chùa Vạn Phúc đều là Tăng nhân đến từ Trung Quốc, về sau cũng còn một số người. Do đó, việc tụng niệm kinh văn cũng rất gần với tiếng Trung Quốc, đương nhiên đa phần các vị Tăng nhân sang đây đều là người vùng Triết Giang, Phúc Kiến, phát âm khác khá xa với tiếng phổ thông hiện nay. Dù chỉ là một ngôi chùa, nhưng Vạn Phúc đã cho thấy một ánh xạ từ ảnh hưởng văn hoá của cả khu vực Đông Á. Sự lan truyền của các phương thức tu tập mới, những hình thức mới được sử dụng rộng rãi trong chùa chiền cũng dần dần được phổ cập tại các nước lân cận.

Không rõ Hoàng Sào tông hiện nay có còn phát triển mạnh mẽ ở Nhật Bản nữa hay không, bởi ngày đến tham quan, tôi cảm nhận chùa rất vắng vẻ và yên tĩnh. Cũng có thể là vì cuối tuần hay là do thời điểm tôi đến sớm quá chăng, mà khách vãng lai tương đối ít, lẻ tẻ vài ba người đến rồi đi.

Ba trăm năm – kiến trúc cũng như những cặp đối liễn, tượng Phật, pháp khí phủ lên một lớp màu thời gian trong sự tĩnh lặng của những ngày cuối xuân khi hoa anh đào bắt đầu tan trong gió. Một dải trường lang dài, những cơn gió nhẹ, phảng phất trong không gian là một sự tịch mịch không lời. Không rõ, tôi đang ở đất Nhật Bản hay đang ở Trung Hoa?!

Tokyo, 26/4/2023
NGUYỄN SỬ










GIEO DUYÊN CÙNG CHÁNH PHÁP

Trang Phật giáo và Doanh nhân được duy trì bằng tâm nguyện xiển dương Phật pháp, phi lợi nhuận. Nếu thấy pháp duyên này có ích, xin cùng chung tay nuôi dưỡng ánh sáng hiểu và thương lan tỏa.
Screenshot 2026 03 17 at 11.56.08
STK: 8871562590
NH TMCP Đầu tư & PT Việt Nam
(ND: Họ tên + tài thí XD Đạo Pháp)

Bình luận

Mời đọc thêm

Xem nhiều

Banner loigioithieu2

Đơn vị tài trợ

D8143c5a 4605 40f1 a1d7 3ac3f55fbd35