Một ngày đầu năm 2026, trong chuyến công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội (số 4 Lý Nam Đế – Hà Nội), tôi có dịp gặp Đại tá, nhà báo Nguyễn Kiên Thái, hiện là phóng viên Báo Quân đội nhân dân. Và anh đã trân trọng tặng tôi tập thơ Nhân duyên – đứa con tinh thần đầu tay của mình.

Thương mình là minh triết và nhân ái
Đọc tập thơ của tôi có cảm giác như đang bước vào một không gian thơ trầm tĩnh, nơi những suy ngẫm
về con người, cuộc đời và các mối quan hệ nhân – quả duyên sinh được soi chiếu bằng một cái nhìn nhân văn, bao dung và hướng thiện. Xuyên suốt tập thơ là tinh thần hướng thượng, văn hóa cao đẹp, sự chiêm nghiệm lặng lẽ của một người có hơn 30 năm trong quân ngũ, Anh đã từng nếm trải thăng trầm, để rồi lắng lại trong một thái độ sống tỉnh thức, điềm đạm và đầy ưu tư và trách nhiệm với con người.
Tôi và tác giả đã quen biết nhau một thời gian khá lâu, và qua việc thường xuyên theo dõi những chia sẻ trên trang Zalo cá nhân của anh, tôi có thêm cơ hội quan sát một lối sống mực thước, giàu suy tư và nhất
quán giữa đời sống thường nhật với những gì anh gửi gắm trong các trang viết của mình. Chính sự thống nhất ấy khiến thơ anh không dừng ở cảm xúc nhất thời, mà mang sức nặng của sự trải nghiệm sâu sắc cuộc sống và sau tất cả là đọng lại một sự chân thành, tha thiết, biết ơn cuộc đời.
Trong mạch chung ấy, bài thơ “Thương mình” khiến tôi dừng lại lâu hơn. Bởi ở đó, những suy tư về yêu
thương, hy sinh và giá trị sống không còn là khái niệm trừu tượng, mà chạm trực tiếp vào những băn khoăn rất thực của con người hôm nay. Họ là những người bà, người mẹ, người vợ… đã, đang mải miết những lo toan thường nhật, đôi khi phải gồng mình để gánh vác trách nhiệm, mà quên mất việc chăm sóc bản thân và nuôi dưỡng những giá trị đích thực cho chính mình.
Bài thơ “Thương mình” là một lời nhắn nhủ nhẹ nhàng mà thấm thía, được viết như một cuộc trò chuyện thủ thỉ tâm tình thân mật giữa người nói và “em”. Và sâu lắng hơn, đó cũng là cuộc đối thoại với chính mỗi con người trong đời sống hiện đại. Sau tít bài là đề từ với lời dạy của Đức Phật Thích Ca: Chiến thắng vạn quân không bằng chiến thắng chính mình. Bài thơ đã đặt nền tảng tư tưởng rõ ràng: giá trị lớn nhất của đời người không nằm ở việc chinh phục bên ngoài, mà ở khả năng thấu hiểu mình, yêu thương mình và làm chủ chính bản thân mình.
Từ điểm tựa triết lý ấy, bài thơ triển khai bằng giọng điệu dịu dàng, không lên gân màu sắc giáo huấn mà như một lời khuyên chân thành. Thể thơ khá mới 4/5/6 (3 câu một khổ), tác giả dùng cách xưng hô “em ơi” khiến lời thơ trở nên gần gũi, thân mật, như lời của một người từng trải, từng đi qua nhiều lo toan, muốn san sẻ lại cho người sau một chút kinh nghiệm sống. Khổ thứ nhất: “Em ơi mạnh dạn/ Nên
thương mình nhiều hơn/ Thương mình rồi mới thương người…”. Khổ thơ ngắn gọn nhưng chứa đựng một sự cảm nghiệm, chiêm nghiệm từng trải, đúc kết đôi khi là của cả một đời người, một sự thức tỉnh nhẹ nhàng, sâu lắng. Giữa bộn bề cuộc sống con người dường như quen hy sinh, nhẫn nhịn, đặt trách nhiệm lên trước cảm xúc cá nhân. Họ e ngại với ánh mắt của người khác, việc “thương mình” đôi khi lại bị xem là ích kỷ. Bài thơ đã khéo léo lật lại quan niệm ấy: chỉ khi biết yêu thương chính mình, con người mới có thể yêu thương người khác một cách lành mạnh và bền vững.

Mình phải khỏe mới cứu được người khác
Trong nhiều nền văn hóa Á Đông – nơi sự hy sinh, nhẫn nhịn và tinh thần “vì người khác” được đề cao – con người dễ rơi vào một ngộ nhận: càng quên mình bao nhiêu thì càng cao thượng bấy nhiêu. Chính vì thế, việc “thương mình” thường bị nhìn bằng con mắt dè chừng, thậm chí bị quy chụp là vụ lợi. Tuy nhiên, bài thơ đã cho ta một góc nhìn khác, đi vào bản chất của yêu thương.
Việc thương mình không đồng nghĩa với nuông chiều bản thân hay chỉ biết sống cho riêng mình. Thương mình, ở tầng ý nghĩa sâu xa nhất, là sự thấu hiểu chính mình: hiểu những giới hạn của của bản thân, những tổn thương của tâm hồn, những nỗi sợ hãi, hoài nghi, bất an về mình, cũng như những tiềm năng mình có và những khát khao, những nhu cầu đích thực bên trong mình. Thương mình là thấu hiểu và bao dung sở trường, sở đoản, yêu quý điểm đẹp và chấp nhận cả khiếm khuyết của mình. Khi một con người đủ dũng cảm nhìn thẳng vào chính mình, không trốn chạy, không tô vẽ, cũng không tự dày vò, mà đón nhận tất cả, thì họ bắt đầu đạt đến trạng thái an nhiên tự tại (nhà Phật gọi là Niết bàn – đạt đến niết bàn không phải là đi đến một nơi chốn, địa điểm, mà là đạt đến trạng thái nội tâm an nhiên, thư thái – bất biến giữa dòng đời vạn biến). Từ sự an nhiên ấy, tâm hồn trở nên rộng mở, mềm mại và có khả năng đón nhận người khác mà không kèm theo điều kiện hay toan tính. Đâu là mong muốn khao khát thật sự, giá trị cần theo đuổi; đâu chỉ là cảm xúc nhất thời.
Ngược lại, khi con người chưa thương mình đủ, chưa làm lành với chính mình, bên trong họ thường là một vùng trống rỗng hoặc đầy rẫy những tổn thương, những nỗi sợ: sợ bị bỏ rơi, sợ không được công nhận, sợ mình không đủ tốt. Trong trạng thái ấy, việc “thương người” rất dễ trở thành một nỗ lực bù đắp. Ta yêu để được yêu lại. Ta hy sinh để được ghi nhận. Ta gồng mình làm điều tốt đẹp để che giấu sự mong manh, yếu đuối bên trong. Tình yêu khi đó không xuất phát từ sự đầy đủ, mà từ thiếu hụt; không đi ra từ tự do nội tâm, mà từ nỗi bất an âm thầm. Và vì thế, dễ trở nên nặng nề, dễ mệt mỏi, kiệt quệ.
Để thương được người khác, cái gốc phải là: hãy “làm đầy bể yêu bên trong mình” trước. Một chiếc bình cạn thì dù muốn cho đi cũng chỉ cho bằng sự vét cạn chính mình. Một tâm hồn chưa được nuôi dưỡng thì dù có cố gắng yêu thương đến đâu cũng sớm rơi vào kiệt quệ. Điều nguy hiểm nhất của việc yêu thương trong trạng thái chưa thấu hiểu bản thân là nó dễ biến thành sự tự đánh mất mình. Ta quen đặt người khác lên trước, quen bỏ qua cảm xúc của mình, quen chịu đựng, và dần dần coi đó là đạo đức. Nhưng sâu bên trong, những nỗi hờn giận bị dồn nén, những tổn thương không được gọi tên sẽ tích tụ. Đến một lúc nào đó, con người rơi vào trạng thái mệt mỏi triền miên, tê liệt cảm xúc, không còn khả năng rung động – không chỉ với người khác, mà với chính cuộc đời mình. Khi ấy, tình yêu từng là sự cố gắng cao cả, lại trở thành gánh nặng. Chỉ khi bên trong đã đủ đầy – đủ bình an, đủ hiểu mình, đủ chấp nhận mình – thì yêu thương mới có thể “tràn ra”, chảy ra một cách tự nhiên, không gắng sức. Khi ấy, yêu người khác không còn là nghĩa vụ hay hy sinh, mà là một niềm vui, một sự chia sẻ tự nguyện, một sự phụng sự trong tự do.
Bởi vậy, việc thấu hiểu và yêu thương chính mình không phải là bước lùi khỏi trách nhiệm với người khác, mà là nền tảng, là điều kiện tiên quyết để yêu thương một cách lành mạnh. Khi ta hiểu rõ mình mạnh ở đâu, yếu ở đâu; cần gì, sợ gì; giới hạn của mình nằm ở đâu – ta sẽ biết cách yêu mà không làm tổn thương cả mình lẫn người. Ta biết nói “đủ”, biết đặt ra giới hạn và dừng lại khi cần, biết cho đi trong khả năng, và cũng biết đón nhận mà không thấy tội lỗi.
Sau cùng, thông điệp sâu xa ở đây là: yêu thương thật sự không sinh ra từ sự gồng gánh, mà từ sự tự do nội tâm. Và tự do ấy chỉ có thể đạt được khi con người dám quay về với chính mình, học cách thương mình một cách tỉnh táo, chân thành. Khi đó, tình yêu dành cho người khác không còn là lớp vỏ bọc che giấu tổn thương, mà trở thành dòng chảy tự nhiên của một tâm hồn đã đủ đầy, an vững.
Đặc biệt, bài thơ chạm đến một thực tế rất đời, tiếp đó là khổ thứ hai: “… Sống ở trên đời/ Đừng vui chuyện bao đồng/ Và quá lo việc chồng con…”. Thực tế cho thấy, gánh nặng của những “chuyện bao đồng”, của những lo toan không dứt về “việc chồng con”… là bản tính của người phụ nữ. Đây không phải là sự phủ nhận trách nhiệm gia đình, mà là lời nhắc nhở về ranh giới cần thiết giữa bổn phận và quyền được sống cho chính mình. “Đừng vui chuyện bao đồng” – câu thơ tưởng như giản dị nhưng lại hàm chứa một thái độ sống tỉnh táo: biết buông bớt những điều không thuộc về mình, biết tiết chế sự can dự quá mức vào cuộc sống của người khác để giữ cho tâm hồn được an nhiên.
Một điểm đáng chú ý của bài thơ là sự chuyển dịch từ tinh thần sang thể chất. Khổ thứ ba “… Em đừng có ngại/ Hãy lo giữ sức khỏe/ Mau làm những điều mình thích…”. Yêu thương bản thân không chỉ là an ủi tinh thần, mà còn là chăm sóc cơ thể, tôn trọng những giới hạn của chính mình. Trong nhịp sống gấp gáp hôm nay, nhiều người sẵn sàng đánh đổi sức khỏe để hoàn thành trách nhiệm, để làm vừa lòng người khác. Vô hình chung, họ đã quên mất rằng cơ thể cũng cần được lắng nghe và nâng niu. Bài thơ vì thế mang dáng dấp của một lời nhắc tỉnh thức: yêu mình không phải là điều xa xỉ, mà là nhu cầu chính đáng.
Khổ thơ cuối khép lại bằng ý niệm về thời gian “… Đời người chóng vánh/ Nên nhớ yêu thương mình/ Đó là điều em xứng đáng”. Nhận thức về sự hữu hạn của đời sống khiến thông điệp “thương mình” trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Khi thời gian trôi nhanh, khi tuổi trẻ và sức lực không chờ đợi ai, con người buộc phải đối diện với một câu hỏi căn cốt: ta sẽ dùng quỹ thời gian ít ỏi mình có để sống như thế nào cho xứng đáng? Thương mình, trong ý nghĩa sâu xa nhất, không phải là thu mình lại trong thế giới
riêng, mà là biết trân trọng từng ngày được hiện hữu, từng cơ hội được sống, được cống hiến và tạo ra giá trị.
Chính vì đời người ngắn ngủi, việc dành thời gian cho những điều vô nghĩa, cho những “chuyện bao đồng”, những kỳ vọng không thuộc về mong muốn đích thực của mình, sẽ trở nên lãng phí hơn bao giờ hết. Thay vào đó, biết “thương mình” là dám lựa chọn những việc làm có ý nghĩa: nuôi dưỡng tri thức, giữ gìn sức khỏe, sống tử tế, góp phần tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng. Khi con người sống đúng với những giá trị ấy, họ không chỉ làm đầy đời sống nội tâm của mình, mà còn lan tỏa năng lượng lành mạnh ra xung quanh, chạm đến và nâng đỡ người khác một cách tự nhiên.
Làm điều có ích cho bản thân cũng chính là làm điều có ích cho xã hội. Một con người biết chăm sóc mình sẽ không trở thành gánh nặng cho người khác. Một con người sống có mục đích, có lý tưởng, sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực, dù nhỏ bé, trong môi trường sống của mình. Giá trị không nhất thiết phải đo bằng những thành tựu lớn lao; đôi khi, đó chỉ là sự tử tế bền bỉ, sự tận tâm trong công việc, hay khả năng lắng nghe, hiện diện trọn vẹn với người đối diện mình và nhân ái với những người xung quanh. Đúng như ý kiến nhận xét của Nhà thơ Lý Hữu Lương (Tạp chí Văn nghệ Quân đội), ở trang cuối bìa Nhân duyên: “… Tôi trân trọng nguyên tắc giản dị của thi sĩ: Bớt một chữ để mở một cửa sổ. Gấp sách lại là khi lòng lắng xuống như mặt hồ vừa ngưng sóng mà tự nhắc mình gắng giữ tư thế sống: Đi chậm, nói nhỏ, hiền với người mà trắc ẩn với mình”.
Bởi vậy, trì hoãn hạnh phúc cá nhân, trì hoãn việc chăm sóc và phát triển bản thân không chỉ là đánh mất những cơ hội không bao giờ trở lại cho chính mình, mà còn là bỏ lỡ khả năng đóng góp cho cuộc đời. Khi mỗi người biết thương mình một cách tỉnh táo, biết sống trọn vẹn trong giới hạn thời gian hữu hạn, thì từng hành động nhỏ đều có thể trở thành một mắt xích lan tỏa giá trị, góp phần làm cho đời sống
chung trở nên nhân văn, ấm áp và đáng sống hơn.
Câu kết “Đó là điều em xứng đáng” vang lên như một lời khẳng định giá trị: mỗi con người, không phân biệt vai trò hay bổn phận, đều xứng đáng được yêu thương, trước hết là từ chính mình.

Lối đi riêng với với thể thơ 4/5/6
Thể thơ mới 4/5/6 (mỗi khổ 3 câu, câu đầu 4 từ, câu tiếp theo 5 từ và câu cuối 6 từ). Về nghệ thuật, bài thơ không cầu kỳ hình ảnh, không phô trương ngôn từ. Chính sự giản dị, mộc mạc ấy lại tạo nên sức lay động. Nhịp thơ chậm rãi, câu ngắn, ý rõ, phù hợp với nội dung chiêm nghiệm, khuyên nhủ. Bài thơ giống như một khoảng dừng cần thiết giữa dòng đời tất bật, để người đọc soi lại mình và tự hỏi: đã bao lâu rồi ta quên mất việc thương chính mình?
Có thể nói, Thương mình không chỉ là một bài thơ, mà còn là một thông điệp sống được gói ghém cô đọng trong hệ tư tưởng, giá trị sống nhân văn của Đại tá, nhà báo Nguyễn Kiên Thái – một sĩ quan cao cấp trong Quân đội nhân dân Việt nam thấm đẫm “kỷ luật là sức mạnh của quân đội”. Và anh cũng đã từng trải qua biến cố trong đời nên lời thơ của anh không mang vẻ mơ mộng thuần túy, mà đằm lại trong sự từng trải, chín chắn và thấu hiểu con người. Thương mình vì thế không phải là lời khuyên cảm tính, mà là sự đúc kết của một hành trình sống dài, nơi con người đã học được cách nhìn thẳng vào chính mình sau những năm tháng cống hiến và hy sinh.
Giá trị tư tưởng mà bài thơ gửi gắm nằm ở việc tái định nghĩa khái niệm yêu thương trong đời sống hiện đại. Ở đó, yêu thương không còn đồng nghĩa với chịu đựng vô hạn hay hy sinh đến quên mình, mà được đặt trên nền tảng của sự tỉnh táo, tự trọng và tự do nội tâm. Chiến thắng chính mình – như tinh thần Phật giáo mà bài thơ khởi dẫn, không phải là khắc chế cảm xúc hay phủ nhận nhu cầu cá nhân, mà là biết thấu hiểu những giới hạn của bản thân, biết bao dung với chính mình trước những bất toàn rất người, và từ đó sống một đời sống hài hòa, không tự bào mòn mình trong những áp lực vô hình. Bởi theo nhà Phật, thất bại lớn nhất của đời người là đánh mất chính mình – đánh mất sự tỉnh thức, sự an ổn và tự nhiên, chân thật của tâm hồn.
Thông điệp ấy đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh xã hội hôm nay, khi những giá trị hy sinh, tận tụy
vẫn được đề cao, nhưng không ít con người lại âm thầm trả giá bằng sức khỏe, sự an ổn tinh thần và niềm vui sống. Thương mình cất lên như một lời nhắc chừng mực mà kiên quyết: đừng để sự hy sinh trở thành sự tự hủy, đừng để trách nhiệm bên ngoài cuốn con người đi đến chỗ đánh mất chính mình. Chỉ khi giữ được sự toàn vẹn bên trong, con người mới có thể tiếp tục gánh vác trách nhiệm bên ngoài một cách bền bỉ và lành mạnh. Chỉ khi ta vững chãi bên trong, cuộc sống bên ngoài mới có thể rực rỡ. Yêu thương bản thân, vì thế, không làm con người trở nên vị kỷ, mà giúp họ trở nên vững vàng, nhân ái và có trách nhiệm hơn với cộng đồng.
Ở tầng sâu hơn, bài thơ còn thể hiện một nhân sinh quan Phật tính, tích cực và hướng thiện: sống không phải để tiêu hao mình trong những khuôn mẫu áp đặt hay những cuộc đua vô tận, mà để hoàn thiện nhân cách, giữ gìn sự tỉnh thức và lan tỏa giá trị sống tử tế. “Thương mình” chính là cách con người tự bảo vệ phần người cao quý nhất trong mình, để không lạc mất bản thân giữa dòng đời nhiều biến động. Đó cũng là giá trị tư tưởng bền vững mà anh gửi gắm: một đời sống biết dừng lại để lắng nghe mình, biết thương mình để không đánh mất mình, và từ đó, biết sống vì người khác bằng một tâm thế an nhiên, tự do và đầy trách nhiệm. Đúng bài thơ: An – mở đầu có đoạn: Ở đầu cầu một chữ an/ Thong dong tự tại, bình an – đủ rồi/ Dòng sông bên lở, bên bồi/ Khổ đau rồi sẽ đến hồi an vui…”.
Bởi thế, theo tôi bài thơ “Thương mình” là điểm nhấn ấn tượng đối với chị em phụ nữ nói chung và những người là vợ, làm mẹ, làm bà… nói riêng là lời nhắc nhẹ nhàng mọi người hãy thương mình nhiều hơn. Với 115 bài thơ trong “Nhân duyên” sẽ lặng lẽ nhắc ta sống tỉnh thức, giữ mình không bị lạc trôi, thương mình đúng mực để thương người tự do, góp phần lan toả và tác động tích cực đến đời sống cộng đồng.
Mùa Đông Hà Nội đầu năm 2026
Nhà nghiên cứu TUỆ NHÃ















