Tham gia hoạt động kinh doanh, bất cứ chủ thể nào cũng mong muốn đạt được những thành tựu nhất định. Trong kinh doanh, đại đa số các chủ thể đều mong muốn đạt được những lợi ích vật chất – lợi nhuận mong muốn. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có không ít những doanh nghiệp được thành lập với mục tiêu kinh doanh vì công ích hoặc đề cao các giá trị hỗ trợ cộng đồng.

Với những doanh nghiệp hướng đến lợi nhuận thì mọi giải pháp kinh doanh của họ đều trả lời cho câu hỏi làm thế nào để đạt được lợi nhuận cao nhất. Chỉ rõ bản chất của nhà kinh doanh trong trường hợp này, Các Mác trong tác phẩm viết về tư bản của mình đã dẫn quan điểm của nhà kinh tế học người Anh T.J.Dunning (1799 – 1873): “Tư bản tránh sự ồn ào và cãi cọ và có bản tính rụt rè. Đó là sự thật, nhưng chưa phải là tất cả sự thật. Tư bản sợ tình trạng không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận quá ít, cũng như giới tự nhiên sợ chân không. Với một lợi nhuận thích đáng thì tư bản trở nên can đảm. Được bảo đảm 10 phần trăm lợi nhuận thì người ta có thể dùng tư bản vào đâu cũng được; được 20 phần trăm thì nó hoạt bát hẳn lên; được 50 phần trăm thì nó trở nên thật sự táo bạo; được 100 phần trăm thì nó chà đạp lên mọi luật lệ của loài người; được 300 phần trăm thì không còn tội ác nào là nó không dám phạm, dù có nguy cơ bị treo cổ. Nếu sự ồn ào và cãi cọ đem lại lợi nhuận thì tư bản khuyến khích cả hai. Chứng cớ là: Buôn lậu và buôn nô lệ”.
Ngày nay, để đạt được lợi nhuận tối đa, các chủ thể kinh doanh đã ngày càng nghĩ ra nhiều biện pháp kinh doanh phi pháp, bất chấp các giá trị văn hóa, đạo đức và chà đạp lên cuộc sống của nhân loại. Hành tinh sống của chúng ta cũng vì thế mà đang ngày càng bị nguy hại, các hiểm họa về tàn phá môi sinh ngày càng lớn, con người và sinh vật khác đang đứng trước nguy cơ bị hủy hoại bởi chất thải, hóa chất độc hại. Để giải quyết thực trạng trên đây, Pháp luật Việt Nam đã quy định về doanh nghiệp xã hội, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Theo đó, khi kinh doanh, doanh nghiệp ngoài việc phải tuân thủ các quy định pháp luật (đăng ký kinh doanh, đăng ký thang bảng lương cho người lao động…) và thực hiện nghĩa vụ với nhà nước (nộp thuế, phí và các nghĩa vụ tài chính khác) thì còn phải có các trách nhiệm xã hội khác như trách nhiệm với khách hàng (không lừa dối, không làm ăn phi pháp, giữ uy tín với khách hàng…), với người lao động (không thực hiện cưỡng bức lao động, không xúc phạm danh dự nhân phẩm người lao động, không lạm dụng lao động trẻ em, đảm bảo điều kiện lao động phù hợp, trả lương đúng và đủ, quan tâm cả đến đời sống tinh thần…), với trật tự chung của xã hội (không xâm phạm môi trường, không xâm phạm các di tích lịch sử, bảo đảm an toàn lao động, bảo đảm an toàn sức khỏe người tiêu dùng, bảo đảm tính phát triển bền vững…).
Để răn dạy con người sống đạo đức, hành động có ý thức trách nhiệm với cộng đồng và chính bản thân mình, từ hàng ngàn năm trước đã có không ít các bậc thức giả chỉ rõ cách nghĩ, cách làm cho nhân loại, trong đó có việc răn dạy đối với các nhà kinh doanh với mong muốn duy trì một xã hội có trật tự, ổn định. Đức Phật Thích Ca cũng đã chỉ ra cái tệ hại trong hành vi kinh doanh bất chính cũng như những phúc đức của hành vi kinh doanh chân chính theo lý Nhân Quả. Những câu hỏi – đáp giữa Tôn giả Sariputta với Đức Phật đã cho thấy những giáo lý sâu xa mà Đức Phật muốn trao truyền cho các doanh nhân:
– Tôn giả Sariputta: “Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây, có hạng người do buôn bán như vậy, đi đến thất bại?… không thành tựu được như ý muốn?… thành tựu được như ý muốn?… lại được thành tựu ngoài ý muốn?”
– Đức Phật đã trả lời: “Ở đây, này Sariputta, có hạng người đi đến Sa-môn hay Bà-la-môn và hứa như sau: “Thưa Tôn giả, hãy nói lên điều Tôn giả cần giúp đỡ” nhưng người ấy không cho như đã quyết định muốn cho… dầu cho người ấy có buôn bán gì, buôn bán ấy đi đến chỗ thất bại…, buôn bán ấy không đi đến thành tựu như ý muốn… Và người ấy cho như đã quyết định muốn cho… buôn bán gì, buôn bán ấy đi đến thành tựu như ý muốn, và người ấy cho hơn như đã quyết định muốn cho… buôn bán gì, buôn bán ấy được thành tựu ngoài ý muốn.”
Theo như lời Phật đã dạy, chúng ta có thể thấy Ngài đã đề cao “uy tín” của chủ thể kinh doanh trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Trong Phật giáo, giữ chữ tín cũng được coi là một chánh niệm chân chính và đó cũng chính là hành vi tạo ra phúc báu cho doanh nhân. Đạo Phật coi trọng tính “vô ngã vị tha” nên rất đề cao hạnh bố thí của các tín đồ. Hạnh bố thí của tín đồ khi được thực hiện trên thực tế chính là một hành động cao cả biểu hiện của chánh niệm chân chính giúp cho tín đồ diệt dần tính tham lam, keo xẻn của con người để đạt được tâm: “thích làm bố thí, và khen những người hay làm bố thí; mình có những gì, đều không tham tiếc, dần dà đem cả đầu, mắt, chân, tay, máu, thịt của mình, cho kẻ đến xin, huống còn tiếc gì đến tài vật khác.” Vì vậy, khi đã hứa cho thì cần phải thực hiện và cần phải thực hiện hơn mức đã hứa – sẽ được thân, tâm an lạc và hưởng phúc báo tốt lành, ngược lại không nên hứa mà không làm hoặc làm ít hơn so với lời hứa. Trên thực tế, nhiều người không giữ lời hứa hoặc không giữ đúng lời hứa (hứa cho nhiều mà thực tế thì cho ít, hứa làm mà không làm). Điều này sẽ ảnh hưởng đến phúc báu của người hứa nói chung và của người kinh doanh nói riêng. Cho nên, điều cốt yếu là mọi doanh nhân cần phải nhất quán trong nói và làm, khuyến khích nói ít, làm nhiều để đem lại lợi ích cho xã hội.
TS. LƯƠNG VĂN TUẤN















