Kiến trúc chùa Việt qua các thời kỳ

Giới thiệu

Kiến trúc chùa Việt Nam là một phần quan trọng trong di sản văn hóa tôn giáo của dân tộc. Qua gần 2000 năm lịch sử Phật giáo Việt Nam, kiểu kiến trúc chùa cũng như Phật điện ở bên trong biến đổi cùng với thời gian và không gian. Kiến trúc chùa truyền thống Việt Nam khá đa dạng, có thể các kiểu chùa như hiện thấy đã xuất hiện trong các thời kỳ lịch sử khác nhau.

Nguồn gốc và sự phát triển

Thời kỳ đầu (Thế kỷ I – VI)

Phật giáo du nhập vào Việt Nam vào khoảng đầu Công nguyên, cũng từ đây, các ngôi chùa dần dần mọc lên, cho đến lúc, gần như mỗi làng có một ngôi chùa. Chùa Dâu được xem là ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, được khởi công xây dựng năm 187 và hoàn thành năm 226, là trung tâm Phật giáo đầu tiên của người Việt.

Thời kỳ phát triển (Thế kỷ VII – XV)

Dưới triều vua Trần Anh Tông năm 1313, chùa Dâu được Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi tu bổ thành chùa 100 gian, tháp 9 tầng (nay chỉ còn 3 tầng dưới), cầu 9 nhịp và được tu sửa nhiều lần sau đó.

Đặc điểm kiến trúc chùa Việt Nam

Vị trí và môi trường

Chùa Việt Nam thường được dựng ở những nơi có cảnh trí thiên nhiên đẹp. Tuy nhiên, chùa là thuộc về cộng đồng nên cần có những mối liên hệ cộng đồng. Về cơ bản, ngôi chùa được xây dựng có vị trí đắc địa, có núi sông, hay ở những nơi cao, thoáng, những nơi có cảnh thiên nhiên đẹp, lại có môi trường xã hội thuận tiện cho các chư tăng tu dưỡng và giáo hóa chúng sinh.

Vật liệu xây dựng

Chùa Việt Nam, trong các làng quê, được xây dựng bằng các thứ vật liệu quen thuộc của xứ sở nhiệt đới này, từ tre, tranh, cho đến gỗ, gạch ngói… Nhưng thường người ta dành cho chùa những vật liệu tốt nhất có thể có được. Vật liệu cũng như tiền bạc dùng cho việc xây dựng chùa thường được quyên góp trong mọi tầng lớp cư dân, gọi là của “công đức”.

Các kiểu kiến trúc chùa

Kiểu chữ Đinh

Kiểu chùa, đơn giản nhất là kiểu chữ Đinh, có nhà chính điện hay nhà thượng điện, tức ngôi nhà đặt các bàn thờ Phật, nối thẳng góc với nhà bái đường hay nhà tiền đường ở phía trước.

Kiểu chữ Công (X)

Phổ biến hơn là kiến trúc có nhà chính điện và nhà bái đường song song với nhau và được nối với nhau bằng một ngôi nhà gọi là nhà thiêu hương, nơi nhà sư làm lễ. Có nơi gọi gian nhà nối nhà bái đường với Phật điện này là ống muống. Trong trường hợp bái đường và Phật điện được nối với nhau bằng nhà thiêu hương hay ống muống như vậy, ta có kiểu chùa được gọi là kiểu chữ Công (X).

Kiểu chữ Tam

Kiểu chùa chữ Tam là kiểu chùa có ba nếp nhà song song với nhau, thường được gọi là chùa hạ, chùa trung và chùa thượng, như kiểu chùa Kim Liên, chùa Tây Phương ở Hà Nội…

Kiểu nội Công ngoại Quốc

Một kiểu chùa khá phổ biến ở miền Bắc Việt Nam là kiến trúc có hai hành lang dài nối liền nhà tiền đường (hay nhà bái đường) ở phía trước với nhà hậu đường (có thể là nhà tổ hay nhà tăng) ở phía sau làm thành một khung chữ nhật bao quanh lấy nhà thiêu hương, nhà thượng điện hay các kiến trúc khác ở giữa. Kiểu chùa này được gọi là nội Công ngoại Quốc, có nghĩa là phía trong có hình chữ Công còn phía ngoài có cái khung bao quanh như ở chữ Quốc.

Chùa Dâu mang kiểu kiến trúc đặc trưng của các ngôi chùa cổ miền Bắc: “Nội công ngoại quốc”. Chùa có bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhật bao quanh ba ngôi nhà chính, gồm tiền điện, thiêu hương và thượng điện.

Đặc điểm kiến trúc theo vùng miền

Kiến trúc chùa miền Bắc

Cấu trúc chùa thường bắt đầu từ Tam quan với ba cửa biểu hiện ba cách nhìn huyền diệu của Phật giáo về thế gian. Một số chùa lớn như chùa Keo ở Thái Bình sau Tam quan ngoại còn có Tam quan nội. Qua Tam quan sẽ vào khu vực chính đó là Tam bảo với ba tòa Tiền dường, Thiêu hương và Thượng điện, gắn với nhau theo kiểu chữ Công và chữ Đinh tạo một không gian nội thất chung, cũng có khi theo kiểu chữ Tam.

Hầu hết các chùa có chuông đồng khá to treo ngay ở Tiền đường, một số chùa xây gác chuông kết hợp với Tam quan như chùa Đậu – Hà Nội, hoặc riêng trên trục chính của Tam bảo ở phía trước như chùa Bút Tháp – Bắc Ninh, hoặc ở phía sau như chùa Keo – Thái Bình.

Kiến trúc chùa miền Trung

Từ Quảng Trị trở vào thì xuất hiện nhiều chùa thuộc hệ phái Nam Tông và hệ phái Khất sĩ. Kiến trúc và Phật điện của các hệ phái này tương tự như ở miền Nam. Bài trí tượng thờ: Phật giáo miền trung cho rằng việc thờ Tổ trở nên quan trọng hơn, thường bàn thờ sư tổ được đặt ngay sau bàn thờ Phật tạo thành cách thờ Tiền phật hậu tổ.

Kiến trúc chùa miền Nam

Các ngôi chùa xây dựng trong thế kỷ 18 còn lại cho đến ngày nay trở thành đặc trưng cho kiến trúc chùa cổ Nam Bộ như Giác Lâm, Giác Viên,… Có một số đặc điểm của chùa Nam Bộ hiện nay đã ảnh hưởng đến miền Bắc và Trung Bộ đó là thờ tượng Đức Quan Âm Bồ Tát ngoài sân dạng đài hoặc có mái che và thường được đặt trước chính điện.

Chùa của người Hoa có vẻ riêng theo lối kiến trúc “Trùng thiềm điệp ốc” với nhiều lớp mái chồng lên nhau, các đầu đao cong vút, toàn thể ngôi chùa bao phủ màu hồng đậm.

Các yếu tố kiến trúc đặc biệt

Tam quan

Tam quan là cổng vào chùa, thường là một ngôi nhà với ba cửa vào. Có chùa có đến hai tam quan, một tam quan ngoại và một tam quan nội.

Tháp

Điều tạo nên sự độc đáo trong kiến trúc của chùa Dâu là tháp xây giữa chùa. Nét kiến trúc đặc sắc nhất của chùa Dâu là tòa tháp Hòa Phong nằm ở khoảng sân chùa sau tiền điện. Tháp xây bằng gạch nung già, vốn có 9 tầng nhưng nay chỉ còn ba tầng dưới.

Chùa còn xây tháp, một số chùa, Tháp cũng là nơi thờ Phật được xây cao trội lên và ở phía trước như Tháp Phổ Minh – Nam Định; tháp Cổ Lễ – Nam Định. Tháp là mộ của các sư thì sẽ xây bên cạnh hoặc phía sau chùa.

Bài trí tượng thờ

Các lớp tượng cũng được phân bố theo các lớp kiến trúc tạo nên các con đường ngang dọc trong không gian chùa. Khác biệt trong bài trí tượng thờ không chỉ ở quy mô của Phật điện mà còn do ảnh hưởng của tông phái, do trình độ của người trụ trì, do được cúng tiến…

Ngày nay, chùa còn lưu giữ khoảng 100 tượng thờ các loại, trong đó có nhiều tác phẩm mẫu mực của nền điêu khắc cổ Việt Nam.

Kiến trúc chùa hiện đại

Tính đa dạng của kiến trúc chùa Việt Nam càng tăng khi xuất hiện những ngôi chùa hiện đại được xây dựng gần đây. Nếu chùa đa dạng thì Phật điện cũng đa dạng không kém. Cách bài trí tượng thờ ở Phật điện Việt Nam cũng biến chuyển qua thời gian và không gian.

Ý nghĩa và giá trị

Ngôi chùa được xem là bảo tàng nghệ thuật, là nơi lưu giữ nhiều di sản Phật giáo có giá trị. Bản thân kiến trúc chùa còn chuyển tải nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa và tôn giáo.

Nhìn chung, khi Phật giáo truyền bá ở mỗi vùng miền, đều uyển chuyển thích ứng và vì thế, trong kiến trúc đều mang những đặc điểm chung và riêng, làm nên tính đa dạng trong kiến trúc chùa Việt Nam.

Kết luận

Kiến trúc chùa Việt Nam qua các thời kỳ thể hiện sự phát triển và biến đổi phong phú, từ những ngôi chùa cổ kính như chùa Dâu đến những công trình hiện đại ngày nay. Mỗi vùng miền đều có những đặc trưng riêng, tạo nên bức tranh đa dạng và phong phú của kiến trúc Phật giáo Việt Nam. Những ngôi chùa không chỉ là nơi thờ cúng mà còn là những bảo tàng nghệ thuật, lưu giữ những giá trị văn hóa, lịch sử quý báu của dân tộc.

Mời đọc thêm

Xem nhiều

Đơn vị tài trợ

Z5861285294809 670bda286a1740edd71688b01081b43444Z5462077530250 7279f60e2d326772a5321e04fb283e7888