Văn minh nhân loại từ thời kỳ hái lượm, săn bắn đến nông nghiệp, công nghiệp với hệ thống sản xuất dây chuyền tạo ra nhiều sản phẩm và hậu công nghiệp với trí tuệ nhân tạo AI như hiện nay đã tạo ra vô số và đa dạng tài sản đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên của con người. Thế nhưng với tài sản nhiều như vậy liệu con người có được hạnh phúc không và đạo Phật có quan điểm gì về hai lĩnh vực này, tài sản và hạnh phúc.

Đạo Phật là đạo cứu khổ. Trước hết, đạo Phật không đồng tình với nghèo khổ. Nghèo khổ và mắc nợ là sự đau khổ cho người có tham dục ở đời(1). Nghèo khổ, giống như lòng tham, góp phần vào tội phạm và bất ổn xã hội(2).
Ngược lại với nghèo khổ là người có tài sản.Đức Phật nói, người với tài sản chơn chánh do tự mình có khả năng mang lại an lạc cho người thân, bà con, bạn bè, đất nước, người đã khuất và người ấy có thể giữ gìn tài sản một cách an toàn: “Này gia chủ, có năm lý do này để gầy dựng tài sản. Thế nào là năm? Ở đây, này gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp. Tự làm mình an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc. Làm cho vợ con, người phục vụ, các người làm công được an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc. Đây là lý do thứ nhất để gầy dựng tài sản.
“Lại nữa, này gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp. Nó làm cho bạn bè thân hữu an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc. Đây là lý do thứ hai để gầy dựng tài sản.
“Lại nữa, này gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp. Các tai hoạ từ lửa, từ nước, từ vua, từ ăn trộm, từ kẻ thù hay từ các người thừa tự không xứng đáng được chặn đứng, và nó giữ tài sản được an toàn cho nó. Đây là lý do thứ ba để gầy dựng tài sản.
“Lại nữa, này gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu tóm với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp, có thể làm năm hiến cúng: Hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho tổ tiên đã chết, hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thiên. Đây là lý do thứ tư để gầy dựng tài sản.

“Lại nữa, này gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu tóm với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp, đối với các Sa môn, Bà la môn nào ly kiêu mạn, ly phóng dật, an trú nhẫn nhục nhu hoà, nhiếp phục tự mình, an tịnh tự mình, làm lắng dịu tự mình, đối với những Sa môn, Bà la môn như vậy, vị ấy tổ chức sự cúng dường tối thượng, đưa đến cảnh giới chư thiên, được quả dị thục, đưa đến cõi trời. Đây là lý do thứ năm để gầy dựng tài sản”(3).
Và để có được tài sản chơn chánh đưa đến lợi mình lợi người, doanh nhân phải có lòng ham muốn thiện (chanda) khác với lòng ham muốn bất thiện (taṇhā):
“Một khi ham muốn (taṇhā) dẫn dắt những quyết định kinh tế, hành vi và thái độ kinh doanh cũng có xu hướng trở nên thiếu hoặc phi đạo đức; nhưng khi ham muốn ấy hướng đến an lạc và hạnh phúc (chanda) dẫn lối cho hoạt động kinh doanh, những hành vi kinh tế tự khắc trở nên có đạo đức”(4).
Hòa thượng Hsing Yun đã bày tỏ quan điểm: “Nếu những doanh nghiệp kinh doanh có thể để tinh thần tất cả vì lợi nhuận sang một bên và học hỏi tinh thần doanh nhân của đạo Phật thì họ vừa có thể đạt được những thành tựu lớn lao hơn vừa đóng góp được nhiều hơn vào sự tiến bộ của xã hội”(5). Về phương diện tài sản, đạo Phật phân chia làm hai: tài sản vật chất và tài sản tinh thần.
“Này Ugga, tiền tài, vàng bạc, của báu đây được xem là tài sản vật chất – material property. Nhưng tài sản ấy bị chi phối bởi lửa, nước, vua chúa, ăn trộm, các kẻ thừa tự, thù địch. Lại nữa, này Ugga có bảy thứ tài sản không thể bị lửa, nước, vua chúa, ăn trộm, kẻ thừa tự, thù địch chi phối. Thế nào là bảy? Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài chúng được gọi chung là tài sản tinh thần”(6).
Người có tài sản là người được hạnh phúc vì không chỉ giúp bản thân an lạc mà có thể giúp người khác cũng an lạc. Thế nhưng, khi so sánh các loại hạnh phúc thì đức Phật cho rằng hạnh phúc tinh thần là tối thắng. Có lần giảng giải cho thương gia Anāthapiṇḍika, đức Phật nói có bốn loại hạnh phúc, đó là hạnh phúc của sở hữu, thọ hưởng, không nợ và không phạm tội. Và ba loại hạnh phúc trên không bằng một phần mười sáu của hạnh phúc do thanh tịnh thân, khẩu, ý(7). Ngài cũng nói, tài sản làm hại kẻ ngu nhưng không làm hại được kẻ tìm cầu mục đích(8). Kẻ tìm cầu mục đích, theo đạo Phật, là người xa lánh taṇhā.
Và hạnh phúc chơn thật ấy chỉ có thể chứng nghiệm bằng thiền định. Có một lần, sau khi tranh luận với ngoại đạo, đức Phật hỏi giữa ngài và nhà vua Bimbisāra ai sống hạnh phúc hơn? Ngoại đạo trả lời, ngài sống hạnh phúc hơn, vì nhà vua không thể ngồi thiền bảy ngày… cho đến một giờ; trong khi, đức Phật trái lại, có thể ngồi thiền một giờ… cho đến bảy ngày(9). Do vậy, để đạt được tài sản và hạnh phúc theo quan điểm Phật giáo, con người cần tu tập giới – định – tuệ. Họ cần biết rằng, không có gì là vĩnh cửu trong cuộc sống này, và sự giàu có thực sự đến từ việc sẻ chia và giúp đỡ những người khác. Qua việc ấy, họ mới có thể tìm thấy tài sản và hạnh phúc thực sự từ bên trong chính mình, không phụ thuộc vào những tài sản vật chất hay danh vọng hão huyền ở trên cuộc đời này.
Chú thích:
(1). ĐTKVN, Tăng Chi Bộ III, chương 6, phẩm Dhammika, phần Nghèo khổ, VNCPHVN ấn hành, 1996, tr.117.
(2).ĐTKVN Nam Truyền, Kinh Trường Bộ, Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống, NXB. Tôn Giáo, 2015, tr. 537.
(3). Kinh Bộ Tăng ChiII, Thích Minh Châu dịch, HCM, 1988, tr. 49-51.
(4). Payutto, P. A. (1998), Buddhist Economics: A Middle Way for the Market Place, Bangkok: Buddha Dhamma Foundation, tr. 35.
(5). Trịnh Đức Vinh (dịch), Kinh doanh và Đức Phật, NXB. Tôn Giáo, 2010, tr. 11-12.
(6). ĐTKVN, Tăng Chi Bộ kinh II, NXB. Tôn Giáo, 2017, tr.178 Bảy loại tài sản tinh thần này đưa đến lợi mình, lợi người hay lộ trình tu tập Giới – Định – Tuệ trong đạo Phật.
(7). ĐTKVN Nam Truyền, Kinh Tăng Chi Bộ, Tập I, Không Nợ, NXB. Tôn Giáo, 2015, tr. 412-13.
(8). Dhammapāda – Kinh Pháp Cú, kệ 355, Thích Thiện Siêu & Thích Minh Châu dịch, NXB. Hồng Đức, 2014, tr. 213.
(9). Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), I, Thích Minh Châu dịch, Đại học Vạn Hạnh, 1973, tr. 94B – 94C.











