Sức Mạnh của Thiện Pháp

8416CD19 048A 4738 ACAD E57FCD8E80BE

Thiện pháp mà chúng ta đã và đang vun bồi ở đây: đừng quên nó. Nhất định nó sẽ trổ quả.
Đừng xem nhẹ nó, nghĩ rằng những điều nhỏ bé chúng ta làm ở đây sẽ không sinh nhiều kết quả.
Đừng xem thường nó chút nào.

Có những ví dụ từ thời Đức Phật. Một số vị tỳ-kheo và sa-di, sau khi xuất gia, đã không thể đoạn trừ phiền não. Họ chỉ có thể làm cho chúng mỏng bớt đi, nên nản lòng và hoàn tục. Sau khi hoàn tục, họ phải tìm kế sinh nhai: có khi bằng con đường chân chính, có khi bằng con đường không chân chính. Những người dính vào việc làm phi pháp đã bị chính quyền bắt và bỏ tù.

Một ví dụ là một học trò của Sāriputta.
Ông xuất gia để phát triển thiện pháp, nhưng khi không đạt được kết quả như mong đợi, ông hoàn tục và trở thành kẻ trộm.
Sau một thời gian, ông bị bắt và bị tuyên án tử hình.
Trước khi bị xử tử, chính quyền quyết định tra tấn ông bảy ngày để làm gương cho dân chúng, nhằm ngăn người khác phạm pháp. Nhà vua ra lệnh cho thuộc hạ vót nhọn những cọc gỗ và mũi giáo sắt thật sắc, cắm thành hàng, rồi bắt tên trộm ngồi và nằm lên đầu giáo để chúng xuyên qua thân thể ông, khiến máu tuôn đẫm và đau đớn tột cùng.

Họ làm như vậy ba lần mỗi ngày – sáng, trưa và tối – và gọi dân chúng trong thành đến xem để thấy hậu quả của việc làm trộm cắp.
Kế hoạch là tra tấn ông như vậy bảy ngày rồi chém đầu.

Nhưng tên trộm ấy vẫn còn chút thiện nghiệp còn sót lại từ thời học với Sāriputta.

Sāriputta đã dạy ông thực hành một số hạnh đầu-đà và thiền định, và ông đã phát triển tâm đạt đến tầng thiền thứ nhất. Nhưng tầng thiền thứ nhất chưa đủ để chống lại phiền não và ái dục của ông, nên ông mới hoàn tục.

Đến ngày thứ sáu, do lòng đại bi, Sāriputta – vốn có những lúc thay Đức Phật hướng dẫn dân chúng tu tập – dùng năng lực thiền định để quán sát các đệ tử, cả những người còn xuất gia lẫn những người đã hoàn tục, xem họ đang ở đâu và thế nào.

Nhờ thiện pháp mà tên trộm từng vun bồi với Sāriputta, một ánh sáng hiện ra trước Sāriputta, trong đó ngài thấy học trò mình đang bị tra tấn và sẽ bị chém đầu vào ngày hôm sau.

Thấy vậy, Sāriputta quán xét kho tàng thiện pháp của người học trò, thấy rằng ông vẫn còn tiềm năng, nhưng đã héo úa gần hết.
Dù vậy, vẫn còn chút thiện pháp chôn sâu bên trong.

Dù phiền não bao phủ tâm ông, thiện pháp vẫn còn đó.

Nhận ra điều này, sáng sớm Sāriputta đi khất thực đến khu vực nơi học trò đang bị tra tấn. Người học trò nằm trên giường giáo khi Sāriputta đến gần.

Nơi ấy đông nghịt người: có người háo hức vì thấy Sāriputta, có người háo hức vì thấy cảnh tra tấn. Đám đông tạm thời tách ra, đủ để học trò thấy mép y của thầy. Sāriputta khởi tâm từ, người học trò cảm nhận được, như một bảo chứng về sự hiện diện của thầy, nhưng đó là khoảng cách gần nhất có thể.

Thấy Sāriputta, người học trò hoan hỷ vô cùng, nghĩ rằng: “Ngày mai ta phải từ biệt thầy ta sẽ bị xử tử”.
Khi nghĩ đến việc đảnh lễ thầy, ông nhớ lại lời dạy thiền của Sāriputta và bắt đầu thực hành, an trú tâm trong định.

Khi tâm lắng yên, ông quán về cái chết: “Ngày mai chắc chắn họ sẽ giết ta”.
Rồi ông tự hỏi: “Cái chết ở đâu? Nó xảy ra ở đâu?”
Và ông nhận ra rằng cái chết nằm ở đầu mũi: nếu hơi thở dừng lại là hết.
Nhưng chừng nào còn thở, dù bị tra tấn dã man, vẫn chưa chết.

Ông bắt đầu niệm hơi thở. Khi tâm tập trung nơi hơi thở, hơi thở trở nên hoàn toàn tĩnh lặng và máu ngừng chảy từ các vết thương. Khi máu ngừng chảy, vết thương khép lại và lành. Khi vết thương lành, ông cảm nhận hỷ lạc do thiền định thắng vượt đau đớn.

Ông quán sát các phần thân – tóc đầu, lông thân, móng, răng, da – qua lại nhiều lần cho đến khi các phần bị xé rách kết nối trở lại.
Khi thân mạnh lên như vậy, ông có thể ngồi kiết già trên đầu giáo và nhập sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền.
Khi vào tứ thiền, thân ông nhẹ như bông gòn và vững hơn cả gỗ và sắt.
Đầu giáo không còn xuyên qua thân nữa.
Cuối cùng tâm ông an trú kiên cố và ông phát nguyện: “Nếu thoát chết, ta sẽ trở về sống với thầy”.
Ông an trú trong tứ thiền với hai chi phần: nhất tâm và chánh niệm sáng suốt. Trong ánh sáng chánh niệm ấy, ông thấy được thầy mình.
Ông lại phát nguyện: “Ta sẽ trở về ở với thầy”.

Ngay khi phát nguyện, thân ông bay lên không trung đến nơi Sāriputta đang ở. Sau khi đoàn tụ với thầy, ông thệ không bao giờ làm điều ác nữa.
Ông tiếp tục tu tập và sống sót qua biến cố ấy. Ông không chứng A-la-hán, nhưng đã thoát chết.

Điều này cho thấy rằng dù thiện pháp chúng ta vun bồi chưa cho kết quả như mong đợi ngay lập tức, cũng không nên xem thường nó.

Thiện pháp giống như lửa. Đừng xem thường lửa, một que diêm có thể thiêu rụi cả thành phố. Thiện pháp cũng có sức mạnh như vậy.

Dù chỉ một chút, nó có khả năng ngăn chặn tai họa, chuyển nặng thành nhẹ, và giữ ta an toàn.
Đây là một điểm cần ghi nhớ.

Điểm khác là con người giống như cây cối.
Nếu bạn gieo hạt bí xuống đất, bạn muốn nó mọc và có trái ngay, nhưng điều đó không thể. Bản chất của hạt giống là lớn dần từng chút, và sau một thời gian sẽ cho quả.
Bạn không thể đo xem trong một ngày hay một giờ nó lớn bao nhiêu, nhưng bạn biết nó đang lớn.
Thiện pháp cũng vậy: dù chưa thấy kết quả ngay, chắc chắn sẽ có quả.

Một số người giống như cây chuối: cắt ngang thân, chỉ một giờ sau đã mọc mầm mới. Có người đạt kết quả nhanh, có năng lực phi thường, vào thiền nhanh và giảng giải rõ ràng kinh nghiệm của mình.

Thời Đức Phật cũng vậy. Hãy lấy ví dụ Cūḷapanthaka.
Ông đã tích lũy thiện pháp lâu dài. Khi thực hành thiền với tâm tự ái bị tổn thương vì bị bạn bè khinh chê, ông đạt kết quả ngay lập tức.

Câu chuyện như sau:
Khi ở cùng 500 vị tỳ-kheo do Đức Phật dẫn đầu, một phú hộ thỉnh cả đoàn đến thọ thực. Anh của Cūḷapanthaka là Mahāpanthaka phụ trách phân phát.
Mahāpanthaka xấu hổ vì em mình chậm chạp trong thiền định nên không mời ông. Chỉ mời 499 vị.
Khi thọ thực, còn dư một phần. Phú hộ hỏi vì sao thiếu một vị.
Đức Phật biết Cūḷapanthaka đang thiền, nên bảo phú hộ phải mời ông.
Lúc ấy Cūḷapanthaka vì tự ái bị tổn thương nên quyết định nhịn ăn và ngồi thiền. Ông vào tứ thiền rồi phát triển thần lực.
Khi người hầu đến mời, ông hóa hiện nhiều hình bóng giống mình khắp tu viện. Người hầu không tìm được.
Đức Phật sau đó bảo người hầu cách mời đúng. Khi nắm tay một “vị,” tất cả hình khác biến mất.
Từ đó Cūḷapanthaka trở thành vị tỳ-kheo xuất chúng với nhiều thần thông.
Đây là sức mạnh của thiện pháp.

Có người thành tựu định, thành tựu tuệ, có thể chứng Niết-bàn trong đời này. Tất cả đều từ thiện pháp và ba-la-mật đã tích lũy.
Vì vậy, chúng ta cũng nên trân trọng thiện pháp mình đang vun bồi.

Ajaan Lee Dhammadharo –

Trích từ “The Power of Goodness” trong The Heightened Mind: Dhamma Talks of Ajaan Lee Dhammadharo, do Ṭhānissaro Bhikkhu dịch sang tiếng Anh.

Để lại bình luận đầu tiên

Giaoduyen new

Mời đọc thêm

Xem nhiều

Banner loigioithieu2

Đơn vị tài trợ

D8143c5a 4605 40f1 a1d7 3ac3f55fbd35