Lịch sử Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ

Phật giáo Việt Nam có một lịch sử lâu đời và phong phú, gắn bó mật thiết với lịch sử dân tộc qua hơn 2.000 năm. Từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã hòa quyện và thăng trầm cùng với lịch sử dân tộc, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển văn hóa tinh thần của người Việt.

Thời kỳ du nhập và hình thành (Thế kỷ I – III)

Nguồn gốc du nhập

Khác với nhiều quan điểm cho rằng Phật giáo Việt Nam truyền từ Trung Quốc, nhiều nguồn sử liệu cho thấy Phật giáo được truyền trực tiếp từ Ấn Độ vào những năm đầu Công nguyên. Năm 273, vua Asoka lên ngôi ở Ấn Độ và cử nhiều phái đoàn ra nước ngoài truyền đạo đến các nước phương Tây, phương Đông cũng như các nước Đông Nam Á.

Trung tâm Phật giáo Luy Lâu

Căn cứ theo các di tích lịch sử đình chùa xưa và sử liệu để lại đời Hậu Hán, sách Lý Hoặc Luận của Mâu Tử, Đại Tạng Kinh cho thấy Phật giáo Việt Nam được du nhập từ thế kỷ thứ III trước Tây lịch và hình thành từ thế kỷ thứ I, đầu kỷ nguyên Tây lịch. Ngoài hai trung tâm Phật giáo Lạc Dương, Bành Thành ở Trung Hoa, cũng đã hình thành trung tâm Phật giáo Liên Lâu (Luy Lâu) tại Giao Chỉ – “một chiếc nôi của Phật giáo”.

Thời Hai Bà Trưng (40-43)

Phật giáo trong cuộc khởi nghĩa

Phật giáo đã đóng vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ vào lịch sử giữ nước, giành độc lập dân tộc. Trong cuộc khởi nghĩa chống ách cai trị của giặc phương Bắc do Hai Bà Trưng lãnh đạo, trong tám vị nữ tướng dưới trướng Hai Bà, có năm vị là Ni sư. Ni sư Phương Dung, một trong năm vị Ni là nữ tướng của Hai Bà hiện được thờ ở chùa Yên Phú, Thanh Trì, Hà Nội.

Thời Tiền Lý (544-602)

Lý Nam Đế và chùa Khai Quốc

Lý Bôn (503-548) lãnh đạo khởi nghĩa đánh bại giặc Lương từ phương Bắc, lập nước Vạn Xuân (544-602). Lý Bôn tự xưng Hoàng đế, tức vua Lý Nam Đế và tuyên bố quốc hiệu Vạn Xuân, cho dân xây chùa thờ Phật đặt tên là chùa Khai Quốc (mở nước). Sau nhiều lần trùng tu, đổi tên, hiện chùa mang tên Trấn Quốc, là di tích lịch sử đặc biệt ở Hà Nội.

Thời Đinh – Tiền Lê (968-1009)

Phật giáo trong việc xây dựng nhà nước

Đinh Bộ Lĩnh (924-979) xưng đế và lập nên nhà Đinh (968-980), đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt, mở đầu cho thời đại độc lập, tự chủ tập quyền. Đinh Tiên Hoàng đã mời nhà sư Ngô Chân Lưu (933-1011) ra giúp vua, giúp nước, tôn sư làm Khuông Việt Đại sư. Vua còn mời nhiều bậc cao Tăng Phật giáo đứng ra giúp vua từ nội trị đến ngoại giao.

Nhà Tiền Lê thay thế (980-1009), vua Lê Đại Hành (941-1005) tiếp tục truyền thống tôn trọng Phật giáo, các nhà sư được vua tin tưởng ủy thác nhiều trọng trách.

Thời Lý (1010-1225)

Thời kỳ hoàng kim của Phật giáo

Khởi nghiệp từ Lý Công Uẩn (974-1028). Trong những năm đầu ra Thăng Long, vua không cho xây tông miếu mà cho dân xây mới 8 ngôi chùa trong kinh thành và ven đô, lại sức cho quan nha đôn đốc dân tu sửa các ngôi chùa để thờ Phật “lấy triết lý Phật giáo mà cố kết nhân tâm, vun bồi trí đức để dân cường nước thịnh”.

Dưới triều Lý, Phật giáo phát triển rực rỡ cùng với sự hưng thịnh của đời sống xã hội. Người hiền, tài được trọng dụng, văn có Văn Miếu – Quốc Tử Giám, võ có Giảng Võ đường để đào tạo và tuyển lựa nhân tài thực học phục vụ quốc gia.

Thời Trần (1225-1400)

Phật giáo phát triển rực rỡ

Tiếp nối truyền thống, dòng chảy Phật giáo thời kỳ này phát triển rực rỡ hơn các triều đại trước. Trong nước, từ vua quan tới thứ dân đều biết Phật pháp. Trần Nhân Tông (1258-1308), vị vua thứ ba của triều Trần, ngoài đời là người nhân từ thương dân, rất nghiêm khắc trước sai trái của bất kể vua quan, trong đạo là người đắc đạo.

Ngài chống gậy trúc đi khắp nơi khuyên dân dẹp bỏ mê tín dị đoan, lấy tư tưởng “hòa quang đồng trần”, theo tinh thần Phật giáo để đoàn kết cùng nhân dân.

Thời Hậu Lê (1428-1789)

Phật giáo nhường bước cho Nho giáo

Phật giáo vào thời hậu Lê mất thế đứng so với Nho giáo mà thế kỷ X-XIV là một thời kỳ vô cùng rạng rỡ. Lê Lợi muốn xây dựng một thể chế quân chủ phong kiến, do vậy cần dùng học thuyết Nho gia để phát triển. Phật giáo bị hạn chế từ kiến thiết, nghi lễ và hoạt động xã hội.

Tuy không còn tham chính như xưa, Phật giáo vẫn lan tỏa trong nhân gian qua tín ngưỡng từ bi, nhân quả, luân hồi. Đến khi Nam-Bắc phân tranh, tình hình xã hội biến đổi, Phật giáo có cơ may phát triển nhờ triết thuyết nhân quả đủ để an ủi nhân tâm giữa lúc phân ly loạn lạc nhiều thống khổ.

Phật giáo xã hội hóa

Thời kỳ này Phật giáo lại phát triển khá tốt. Phật giáo thời này không chỉ là Phật giáo của giới thượng lưu quan quyền như thời Lê Lý Trần mà là Phật giáo xã hội hóa, bàng bạc khắp trong nhân gian làng xã.

Thời nhà Mạc (1527-1592)

Sự chấn hưng của Phật giáo

Sau khi nắm quyền, Mạc Đăng Dung đã cho sửa sang lăng miếu của vua Lê ở Nam Kinh và định kỳ cúng tế. Vua Mạc Đăng Dung lệnh cho trưởng thái giám hiệu Thụy Trúc thiền sư xây dựng chùa bà Đinh (chùa Thiên Phúc – Kiến Thụy – Hải Phòng).

Ở những nơi xa kinh kỳ như Ninh Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Phú Thọ, việc xây dựng chùa đều do các quan địa phương khởi xướng với sự tham gia đóng góp của nhân dân trong làng xã. Thời nhà Mạc trị vì là thời đại chấn hưng của Phật giáo sau hàng trăm năm bị ức chế bởi chủ trương dương Nho ức Phật của nhà Lê sơ.

Thời Nguyễn (1802-1945)

Phật giáo trong thời kỳ phong kiến cuối

Cả dân tộc Việt và Phật giáo trong thời kỳ này đều có những thăng trầm khá đặc biệt, sau khi trải qua giai đoạn xâm lược và đô hộ của nhà Minh với chính sách đồng hóa hà khắc. Một mặt, chúng đốt sách, diệt trừ tầng lớp trí thức bản địa, phá hủy các công trình văn hóa kiến trúc lớn, hòng tiêu diệt nền văn hóa Đại Việt hưng thịnh từ những triều đại trước.

Thời hiện đại (1945 – nay)

Sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời đánh dấu một sự kiện lịch sử của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng thiết tha bao đời của Tăng, Ni, Phật tử Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên Phật giáo thống nhất trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Phật giáo trong thời kỳ đổi mới

Chặng đường 40 năm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam không dài so với lịch sử Phật giáo đã 2.000 năm có mặt ở Việt Nam. Song 40 năm qua, Giáo hội đã có những bước phát triển quan trọng, tạo nên mốc son mới trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Từ ngày thành lập Giáo hội đến nay, hàng vạn Tăng Ni tiêu biểu đã tham gia vào các tổ chức xã hội Thanh niên, Phụ nữ, Mặt trận Tổ quốc các cấp từ địa phương đến trung ương.

Đặc điểm và ý nghĩa

Tinh thần hộ quốc an dân

Sự chấn hưng của Phật giáo đã tạo bước quan trọng của quan niệm dấn thân, gắn hoạt động tôn giáo với hoạt động chính trị xã hội, gắn ý thức dân tộc với ý thức Phật giáo. Phật giáo đã tạo ra những phong trào lớn cho lịch sử Phật giáo và lịch sử dân tộc.

Sự bản địa hóa

Phật giáo Việt Nam có sức mạnh tiếp thu và đã chủ động bản địa hóa Phật giáo, một yếu tố văn hóa nước ngoài, để phù hợp với văn hóa bản địa; và hơn thế nữa, biến nó trở thành một trong những vũ khí sắc bén và uy vũ đối kháng âm mưu đồng hóa và nô dịch về văn hóa của phương Bắc ngay từ những ngày đầu.

Kết luận

Lịch sử Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ cho thấy sự gắn bó mật thiết giữa Phật giáo và dân tộc Việt Nam. Từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã trở thành một phần không thể tách rời của văn hóa tinh thần dân tộc, góp phần quan trọng vào việc xây dựng và bảo vệ đất nước qua các thời kỳ lịch sử.

Mời đọc thêm

Xem nhiều

Đơn vị tài trợ

Z5861285294809 670bda286a1740edd71688b01081b43444Z5462077530250 7279f60e2d326772a5321e04fb283e7888